Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘Áo vải cờ đào’ Category

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Nhân theo vua Cảnh Thịnh đi thăm lăng vua Quang Trung, Ngô Thì Nhậm có làm một bài thơ với lời chú thích rất lạ, như thế này: Mùa xuân năm Đinh Tỵ, tôi mộng thấy Thiên Hoàng đế ngự ra Bắc Thành; tôi hầu thảo chiếu thư. Câu cuối cùng ngự bút chữa là: “Trẫm lạc nhân hoàn lưu chính trị” (Trẫm xuống cõi đời, lưu lại chính trị), rồi ngoảnh lại bảo tôi: “Trẫm thêm bảy chữ, người thấy thế nào?” Tôi khấu đầu khen hay.

Cũng có thể những giấc mơ có thật; nhưng ở đây người ta đọc thấy cái hàm ý của Ngô Thì Nhậm muốn dùng một giấc mơ để khuyên răn vua Cảnh Thịnh. Như thế là, qua lời tự thẩm định của chính nhà vua trong giấc mơ, thì khát vọng lớn ở đời của Nguyễn Huệ phải là chiến công mà là chính trị, là làm sao xây đắp được một nền Đại Chính để nhân dân sống có hạnh phúc. Đây là sự đánh giá hết sức sâu sắc của một nhà văn hóa lớn đối với vị anh hùng dân tộc: Nguyễn Huệ không chỉ là một thiên tài quân sự, mà còn là một nhà vương đạo mang cái Tâm nhân nghĩa bao trùm cả thời đại ông. Đối tượng toàn diện của chính trị là con người và vì thế, có thể nói đến một “Chiến lược con người” trong sự nghiệp vĩ đại của Nguyễn Huệ.

Truyền thuyết dân gian Bình Định có nói đến một nhân vật lịch sử tên là Giáo Hiến, người thầy toàn diện đã giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo nên bản lĩnh của Nguyễn Huệ từ những năm còn vác cày cho tới khi trở thành thủ lĩnh khởi nghĩa. Đến trước khi nhắm mắt, thầy giáo Hiến vẫn luôn luôn răn bảo người học trò mà ông đã gởi gắm tất cả kỳ vọng tương lai:

Một mai chống vững sơn hà

Phải dùng văn trị dung hòa võ công

Sau này rực rỡ đai cân

Phải dùng đức trị mười phân vẹn mười

Nhớ câu thu phục lòng người…

Văn trị, Đức trị, Lòng người… có lẽ những bài học vỡ lòng ấy từ thuở dựng cờ đã vang động sâu thẳm trong bản chất minh tuệ của Nguyễn Huệ để phát triển lên thành tư tưởng vương đạo của ông qua suốt sự nghiệp giải phóng và phục hưng dân tộc.

Không nghi ngờ gì nữa, rằng một nền chính trị lớn (Đại chính) phải thể hiện đầy đủ lý tưởng “An dân” của nó. Nguyễn Huệ chăm lo giáo dục quân đội của ông thành một sức mạnh vì dân trừ bạo từ trong bản chất, những người lính trên đường dài chinh phạt vẫn sống: “không lương không tiền, nhưng không lấy cái gì của người Bắc hết, hoặc ăn cơm không muối, uống nước lạnh và ngủ ngoài trời” (Thư của linh mục Le Roy ở Kẻ Vĩnh). Dưới quyền Nguyễn Huệ không thấy sử sách nói tới nạn tham nhũng và hối lộ; ông trừng trị thẳng tay với bất cứ ai lợi dụng quyền thế để cướp đoạt và ức hiếp nhân dân. Nhật ký của Hội truyền giáo Bắc kỳ thời đó có ghi lại một sự kiện điển hình: “Trước mặt ông ta (Ngô Văn Sở), vua Quang Trung đã xử trảm viên trấn thủ Thanh Hóa và một đại thần khác bị khép tội quấy nhiễu đàn áp dân chúng”. Thanh lọc mọi yếu tố xúc phạm nhân dân ra khỏi bộ máy cai trị dưới quyền mình, đó là bản chất dân chủ của đường lối Đại Chính của Nguyễn Huệ, mặc dù ở thời đại ông, lịch sử chưa bao giờ có cơ hội để trả giá cho một khái niệm về dân chủ nào hết.

Ngay khi lên ngôi vua, Nguyễn Huệ đã công bố lời thề tâm huyết tận đáy lòng của một lãnh tụ nghĩa quân đã trải suốt  mười bảy năm chiến đấu vì nhân dân, rằng nhiệm vụ của ông là “dìu dắt dân vào con đường lớn, đưa dân lên cõi đài xuân”. Trong nhiều chính sách tiến hành ngay sau đó, chính quyền vua Quang Trung đã tập trung vào hai nhiệm vụ dân tộc lớn nhất là chống giặc đói (Chiếu khuyến nông), và chống giặc dốt (Chiếu lập học). Đặc biệt, sự chăm lo việc học cho dân đã được nhà vua đưa lên nhiệm cấp bách hàng đầu, nhằm mục đích nâng cao văn hóa đại chúng và đào tạo nhân tài cho đất nước: “Dựng nước lấy dạy học làm đầu; cai trị lấy nhân tài làm gốc”. Vì thế dù tình hình kinh tế quốc gia hết sức khó khăn qua chiến tranh, và còn phải tiếp tục đánh giặc, vua Quang Trung vẫn nỗ lực thực hiện một chính sách văn hóa – giáo dục dân tộc sâu rộng và toàn diện; trong đó lần đầu tiên trong lịch sử phong kiến nước ta, trường học được thành lập đến tận các cấp xã (xã học), các thầy giáo xã (giảng dụ) được triều đình trung ương cấp bằng chứng nhận. Tờ Chiếu lập học nhấn mạnh rằng chăm lo việc học cho nhân dân là “quy mô lớn để chuyển loạn thành trị”.

Nét nổi bật nhất trong sách lược vương đạo của Nguyễn Huệ chính là cuộc chinh phục của ông đối với đẳng cấp trí thức ở thời đại ông, những người nắm giềng mối xã hội thoạt đầu đã chống lại phong trào nông dân một cách quyết liệt và mù quáng chưa từng thấy ở bất cứ thời kỳ lịch sử nào khác.

Trí thức vốn là những chuyên viên trong mọi lĩnh vực, vẫn giữ vai trò quyết định cho sự tồn tại của mọi chế độ xã hội; và trí thức nho sĩ là những chuyên viên tổng hợp của xã hội phong kiến. Sự thất bại của phong trào Tây Sơn ở địa bàn phía Nam có nhiều nguyên nhân, trong đó điều quan trọng là Tây Sơn không có sự hợp tác của trí thức để cai trị ở một số nơi đất mới phức tạp với nhiều khối sắc dân khác nhau; ngược lại phía Nguyễn Ánh đã quy tụ được vốn liếng sẵn có của mình, nổi tiếng là nhóm tri thức Võ Trường Toản đã đào tạo những Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tòng Châu… Chính các thủ lĩnh Tây Sơn đã nhìn thấy khoảng trống đáng lo ngại ấy trong phong trào nông dân của mình. Vì thế khi ra Bắc lần đầu, Nguyễn Nhạc chỉ chăm chăm xin cho được “món của quý nước An Nam” là các ông nghè để đem về, thấy ai nói năng hoạt bát một chút cũng hỏi ngay “Thế các ông có phải là tiến sĩ không?”.“Những kẻ giúp việc trong nhất thời đều là những kẻ mạnh bạo” (ý nói những võ tướng chỉ giỏi việc chiến trận). Chính Nguyễn Huệ cũng thẳng thắn nhìn nhận sự vắng thiếu đội ngũ trí thức trong lực lượng cách mạng của mình. Trong thư gửi Nguyễn Thiếp, ông khiêm tốn tỏ nỗi lo ngại:

Những trí thức đương thời, họ là ai? Ở Nam hà mọi người đều đã chạy theo chúa Nguyễn trốn vào Gia Định, còn lại Bắc hà nơi dày đặc “áo mão tiến sĩ”, thì chính là nơi phong trào chống Nguyễn Huệ bạo phát hoặc ngấm ngầm đều hết sức ác liệt, dẫn đầu là giới trí thức chính thống của triều đình Lê – Trịnh. Lý Trần Quán tự chôn sống chết theo chúa Trịnh, Nguyễn Huy Trạc uống thuốc độc tại ngự sử đài chết theo nhà Lê. Trần Phương Bình lên núi Hồng Lĩnh mổ bụng tự sát. Lê Duy Đàn và Trần Danh Án thì “nón rách, áo tơi tàn” lẻn qua Nam Quan quỳ lạy vua Thanh mang đại binh qua; Dương Trọng Tế cùng nhiều trí thức lớn trong các gia đình Nguyễn Du, Ngô Thời Nhậm đều chiêu mộ hào kiệt “dò hư thực tế thế nào để tìm cách bắt lấy Nguyễn Huệ”. Văn chương hồi đó có những tên tuổi lừng lẫy như Nguyễn Hành, Phạm Thái, cả Bùi Dương Lịch, Phan Huy Ích trước đó đã nồng cháy nỗi căm thù chống lại Nguyễn Huệ; thậm chí nhiều năm sau, Lê Huy Giao còn làm thơ “Mừng kẻ thù là Quang Trung Nguyễn Huệ chết” (Hạ cừu nhân Quang Trung, Nguyễn Huệ chết). Hai trăm năm đất nước bị chia cắt, giới sĩ Bắc hà đó đã đồng hóa chữ trinh với võng lọng cân đai của Chính phủ (tên gọi phủ chúa Trịnh lúc bấy giờ), đã mụ mẫm đi trong nỗi ngu trung đối với nhà Lê, vì thế nhất loạt dưới mắt họ, Nguyễn Huệ không hiện ra như người anh hùng cứu dân, mà là một “tên giặc man rợ” (man tặc). Tình hình ngao ngán đến nỗi Nguyễn Huệ phải kêu lên: “Ta thật không lấy Bắc hà làm lợi”. Thật lạ lùng, kim cổ chưa bao giờ trí thức Việt Nam lại phi dân tộc đến như vậy.

Giá như bấy giờ, Nguyễn Huệ chỉ cần mang một thanh gươm chinh phạt khắp Bắc hà, cứ hễ nghe đến trí thức là chém đầu, quả tình cũng không có gì oan. Nhưng nếu làm thế thì chắc chắn Nguyễn Huệ đã không thực hiện nỗi sứ mệnh lịch sử của mình: thứ nhất là ông sẽ mất hết lòng người, thứ hai là ông sẽ không tìm đâu ra nhân tài để giúp ông xây dựng đất nước; thứ ba, ông sẽ mang tội với hậu thế, bởi vì có thể là Việt Nam sẽ không bao giờ còn biết đến Nguyễn Du và Truyện Kiều.

Nhưng hiển nhiên là Nguyễn Huệ đã không xếp trí thức vào loại đối tượng cần phải đánh đổ của nghĩa quân. Ông chỉ cho họ thấy rằng họ là những người “mang bệnh nặng đến mê muội và sai lầm”, tức là bệnh thiếu máu vàng vọt của nhận thức do chữ trung mù quáng gây ra. Phải đạt thấu cái tâm nhân đạo của bậc lương y chân chính như vậy mới cứu nỗi “con bệnh trí thức” của thời đại ông, bởi vì như Ngô Thế Lân đã nói, người thầy thuốc giỏi không ở chỗ biết cách cứu bệnh, “mà ở chỗ biết được mạng sống hay chết, có thể chữa hay không chữa khỏi”. Nguyễn Huệ xác tín rằng bệnh của họ sống được, rằng bệnh của anh trí thức chẳng qua là bệnh của nhận thức; rằng nhân cách trí thức có khả năng phục thiện một khi nhận ra đúng chân lý, và Nguyễn Huệ đã giải bày lòng mình một niềm tin ngỡ chừng ngây thơ nhưng sâu thẳm một cách không ngờ rằng “con người tốt không thể làm ác suốt đời”.

Từ đó, Nguyễn Huệ đã công bố một chính sách khoan hồng triệt để đối với những cựu thần nhà Lê đã chống đối Tây Sơn: những người bị giam cầm được thả ra, những người đang trốn tránh thì không bị truy nã, những người đã ra trình diện thì được trả lại điền sản để khỏi đói rét, những người thích ẩn dật thì triều đình không tìm cách đoạt chí; riêng đối với những người muốn ra hợp tác thì nhà vua không câu nệ cũ hay mới, khoa danh hay không, đều dung nạp hết miễn là người có tài và thực tâm gánh vác việc nước.

Chung cho tất cả là như vậy, nhưng đối với người có tài, Nguyễn Huệ có một cái nhìn biệt nhãn ít có ở đời: quý trọng, tin cậy, tất cả đều chân thành tận đáy lòng, như thể rằng Nguyễn Huệ đã quên đi sức mạnh sấm sét của mình để sống với người tài bằng một quả tim lớn. Thử nghĩ lại xem, một con người đã coi ba mươi vạn quân Thanh trước mắt chỉ như “những kẻ tự dẫn mình đến chỗ chết”, lại khiêm cung trước một La Sơn phu tử đến như vậy, tha thiết, nơm nớp, tự khu xử như học trò đối với thầy. Nguyễn Huệ luôn luôn giữ ý niệm như thế đối với kẻ sĩ: với Trần Văn Kỷ, Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Thiếp, dù là bề tôi, họ vẫn vừa là khách, vừa là thầy của ông. Phải nói rằng Nguyễn Huệ chưa bao giờ biết sợ bất cứ kẻ thù nào, ông chỉ sợ người hiền.

Nguyễn Huệ đã buộc những người trí thức hoài nghi phải tin theo ông, bằng cách cho họ thấy rằng ông trao cả niềm tin cho họ, không chật hẹp, không dè chừng, không phân biệt. Vừa gặp dược Ngô Thì Nhậm, ông nhận ra ngay người hiền, liền giao trọng trách ngang hàng với Ngô Văn Sở, căn dặn chung: “Ngô Thì Nhậm vừa là khách vừa là bầy tôi của ta. Nay ta giao cho các khanh hết thảy việc quân quốc… các khanh cần họp bàn với nhau, không được phân biệt kẻ mới người cũ, miễn sao làm cho được việc ta mới yên lòng.”

Làm như vậy không phải ông học đòi làm minh quân, mà thật lòng ông cảm thấy bất lực trong sự nghiệp dựng nước nếu không có sự hợp tác của kẻ sĩ “Nghĩ rằng: sức một cây gỗ không chống nổi là một tòa nhà to, mưu lược một kẻ sĩ không dựng được cuộc thái bình” (Chiếu cầu hiền).

Và rốt cuộc Nguyễn Huệ đã chinh phục được nhân tâm: kẻ sĩ Bắc hà kể đến hàng ngàn người đều về với Tây Sơn “rốt cuộc còn lại bảy, tám người không chịu ra mới thôi” (Hoàng Lê nhất thống chí). Không phải là việc mũ áo cho đẹp mắt, thực sự họ là những nhân tài giúp nước: Trần Văn Kỷ lo nội chính, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn lo toàn bộ sách lược ngoại giao đối với nhà Thanh. Nguyễn Thiếp và Bùi Dương Lịch xây dựng văn hóa-giáo dục, Nguyễn Gia Phan chăm lo ngành y tế (Nguyễn Gia Phan là người chỉ đạo công việc chống dịch bệnh ở Thăng Long sau khi quân Thanh rút chạy).

Như chính lời cảm khái của từng người trong cuộc, Quang Trung Nguyễn Huệ đã “tái tạo” cho Ngô Thì Nhậm, “gây dựng lại” cho Phan Huy Ích. Trong ánh sáng nhân đạo của Nguyễn Huệ, cả một đẳng cấp kẽ sĩ thời Lê mạt đã tự cải tạo mình thoát ra khỏi số phận tàn lụi để mang tất cả “chất xám” ra cống hiến cho đời, được chia sẻ với toàn dân tộc niềm vinh dự “được sinh ra làm người nước Nam”, như chính Ngô Thì Nhậm đã nói. “Mà nay áo vải cờ đào – Giúp dân dựng nước biết bao công trình”, đấy là sự đánh giá tuyệt vời dành cho Nguyễn Huệ, không phải trên quan điểm của nhà Lê, mà là của những người nghĩa quân đi chân đất. Ai Tư Vãn là một bằng chứng tâm huyết về sự cải tạo nhận thức lịch sử của kẻ sĩ nhà Lê, bởi vì dù là hoàng hậu, Lê Ngọc Hân cũng vẫn là một công chúa là Lê.

Nguyễn Huệ đã xây dựng nền nhân cách mới cho kẻ sĩ cả một thời đại, và cũng phải nói rằng chính những kẻ sĩ đó cũng góp phần xây dựng nền nhân cách lớn của Nguyễn Huệ, theo quy luật chung tương ánh hồng của cái Đẹp. Chính là những trí thức của một thời tưởng đã thành tội phạm dân tộc hoặc may ra thì cũng đành cuộc đời bỏ đi ấy, đã cùng với Nguyễn Huệ xây dựng nhà Tây Sơn thành một triều đại văn hiến xứng đáng với võ công của nó. “Quốc vương là người thiên tư hiếu học, tuy trong chinh chiến gấp gáp vẫn không quên bàn bạc đạo lý. Trong nghị luận thường ngày, quốc vương diễn đạt được một cách có thứ tự những cái mà sách vở đời trước chưa từng nói, tôi thực nhờ được gần gũi, bơi lội trong kiến thức của quốc vương mà lĩnh hội được” (Bang giao hảo thoại) - Ngô Thì Nhậm, người đọc hết kim cổ, đã nhận xét về năng lực trí tuệ của Nguyễn Huệ như vậy.

Mỗi anh hùng dân tộc đều có một sự nghiệp lớn lao khó có thể so sánh, nhưng ở từng con người vẫn nổi bật lên những nét đặc biệt thuộc về tính cách: Lý Thường Kiệt là sự gánh vác tận tụy, Trần Hưng Đạo là lòng hòa ái vì nghĩa lớn, Lê Lợi là sự bền chí không lùi bước, Nguyễn Trãi là nỗi thương dân đến quặn lòng… và với Nguyễn Huệ, đúng như nhận xét của Ngô Thì Nhậm, là một suy nghĩ rất mới, bây giờ vẫn mới.

Read Full Post »

 

(ĐVO) Thời kỳ đầu khi Gia Long lên ngôi, đã chỉ dụ cho dân địa phương rằng: “Hễ ai là bà con tộc thuộc của Tây Sơn ra khai báo, sẽ được trọng dụng bổ làm quan”. Vậy, thực hư chuyện này thế nào?

Theo sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung của PGS.TS sử học Đỗ Bang, vụ tàn sát dòng dõi Tây Sơn của Vua Gia Long được các bô lão truyền rằng: Sau khi nghe chỉ dụ của nhà vua, các tộc thuộc Tây Sơn ở Hưng Nguyên (tỉnh Nghệ An) tưởng thật, đã ra khai báo, nhưng không ngờ tất cả đều bị bắt và bị giết. Hiện nay, có 24 gia đình gốc họ Hồ đều có người chết trong ngày đại tang Tây Sơn, kỵ vào ngày 20 tháng 10 âm lịch hàng năm.

Những người còn sống được do lẩn trốn sang các làng khác, có người phải đổi thành họ Nguyễn mới tránh được sự truy nã của vua quan triều Nguyễn. Ở xã Hưng Thái (huyện Hưng Nguyên) tương truyền có khu mộ tổ của anh em Tây Sơn.

Sau khi lên ngôi, Hoàng đế Gia Long đã “tận pháp trừng trị”
vua quan Tây Sơn.

 

Lăng trì (còn gọi là tùng xẻo, xử bá đao) là hình thức xử tử tàn độc, dã man và ghê rợn bậc nhất thời trung cổ. Phương pháp tử hình này cũng được các vua chúa Việt Nam dưới triều Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức thi hành. Trong Bộ luật Gia Long thời Nguyễn xếp lăng trì vào loại “cực hình ngoài mức cực hình” và áp dụng với những kẻ mang các tội sau: mưu phản và đại nghịch chống vua và xã tắc, mưu giết ông bà, cha mẹ, gian dâm và âm mưu giết chồng, giết một nhà ba người, chặt chân tay, phanh thân thể người còn sống, đầy tớ đánh chủ nhà đến chết, vợ cố ý đánh chết chồng.

Dựa theo những bức tranh vẽ và sách xưa viết lại, thường phạm nhân sẽ bị trói vào cột, đao phủ nghe hiệu lệnh bằng tiếng trống và chặt hết tay chân, rồi dùng dao sắc xẻo từng miếng thịt cho đến chết. Tùy theo từng nơi, từng luật mà quy định mà phải sau đúng bao nhiêu nhát xẻo thì nạn nhân mới được chết…

Trước đó, mùa đông năm Nhâm Tuất, sau khi bắt sống vua Bảo Hưng Nguyễn Quang Toản, xa giá của Hoàng đế Gia Long từ Thăng Long trở về Phú Xuân và đã “tận pháp trừng trị” vua quan Tây Sơn… Sách Đại Nam thực lục chính biên chép: Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là Quang Duy, Quang Thiệu và Quang Bàn bị 5 voi xé xác, đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục. Quang Tự, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị, rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh, Hán, Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt; chưa kể 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệ đều bị xử lăng trì.

Lăng mộ nhà Tây Sơn như các lăng của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã nát quăng đi, đầu ba vua Tây Sơn (Thái Đức, Quang Trung và Cảnh Thịnh) và bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ thì bị giam trong ngục tối.

Theo Quốc sử quán triều Nguyễn, Vua Gia Long sau khi có những hành động tận pháp trừng trị lên hài cốt của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và thân xác của Nguyễn Quang Toản…, đã  chừa lại ba đầu lâu bỏ vào 3 cái vò, đậy nắp kỹ, niêm khằng, quấn xích sắt, chú bùa để giam vĩnh viễn trong Nhà Đồ ngoại (sau đổi thành Vũ Khố) vào tháng 11 năm Nhâm Tuất (1802).

Đến năm 1822, Vua Minh Mạng ra lệnh đưa 3 cái vò vào giam ở Khám đường. Đêm 22 rạng 23 tháng năm Ất Dậu (1885), phòng thành Huế thất thủ, Vua Hàm Nghi cùng hoàng gia phải rời khỏi phòng thành, quân Pháp vào thành…Lúc đó, có người mang 3 vò chạy trốn. Riêng một vò (sọ của Vua Quang Trung) được một ông họ Phan, người ở gần Cầu Ngói đã theo hào, lạch, sông đưa về Cầu Ngói, Thanh Toàn…

Lại nói về quê hương của tổ tiên Hoàng đế Quang Trung, theo sử liệu, quê hương đầu tiên là ấp Tây Sơn (nay thuộc huyện An Khê, tỉnh Gia Lai), khi đó với đoàn chiến tù bị bắt từ xứ Nghệ, Chúa Nguyễn cho phát tán đi nhiều nơi, một số trong họ có tổ tiên Nguyễn Huệ bị đưa lên khai phá vùng cao nguyên này từ thế kỷ XVII. Tuy nhiên, đến đời cụ thân sinh ra Nguyễn Huệ là Hồ Phi Phúc, có vợ là Nguyễn Thị Đồng, đã chuyển về cư ngụ tại quê vợ ở thôn Phú Lạc – nằm dưới chân núi Ngang, nơi có hai hố huyệt, chỗ an táng của hai cụ, từng bị Hoàng đế Gia Long cho quật phá vào thế kỷ XIX nhưng không thành công.

Các giai thoại ở địa phương đều công nhận rằng, mộ song thân các anh em Tây Sơn chôn ở núi Ngang (Hoành Sơn). Vì có mộ ông Hồ Phi Phúc nên Hoành Sơn được tôn xưng là núi Thiếu Tổ. Song, vẫn không biết đích xác chôn ở vị trí nào? Đứng ở phía Đông Hoành Sơn nhìn lên, ở khoảng giữa có một trảng đất trống như một chiếc ghế bành mà thân núi là lưng tựa. Ở trảng đất này có hai nấm mộ song song, bằng đá hình chữ nhật. Gia Long ngỡ rằng đó là phần mộ của ông bà Hồ Phi Phúc nên truyền quan địa phương khai quật. Thế nhưng, khi khai quật lên, không thấy hài cốt mà chỉ có bốn chiếc chum đựng dầu phụng đã vơi, trong mỗi chum có một ngọn đèn chong chóng đang cháy.

Theo các bô lão, hai huyệt mộ giả có bốn ngọn đèn dầu phụng khổng lồ đang cháy là do Tây Sơn chôn, nhưng không ai giải thích rõ mục đích của việc làm đó. Và câu hỏi này từ đầu thế kỷ XIX đã đặt ra cho quan quân triều Nguyễn. Họ đã mất công đi tìm, đào bới, nhưng cuối cùng vẫn không thấy chính huyệt mộ táng nằm ở đâu?

Năm 1990, ở di tích Gò Lăng (Phú Lạc) phát hiện bia mộ có chữ “Ngự chế” lập năm Kỷ Hợi, nhiều người cho đó là khu lăng mộ của nhà Tây Sơn. Năm 1999, ở đây lại phát hiện một kiến trúc cổ, dấu vết còn lại là ba hàng cột đá, với nhiều mảnh ngói vỡ, chén, bát.

Cho đến nay, ở thôn Phú Lạc vẫn lưu lại một đền thờ nhỏ, do nhân dân dựng lên để thờ Tây Sơn tam kiệt. Trong công viên Tây Sơn, bên cạnh bảo tàng Quang Trung còn có hai cây me cổ thụ và giếng nước lâu đời.

Read Full Post »

- Khi phái đoàn của Quang Trung (giả) đến Nhiệt Hà để ra mắt Càn Long, vua Thanh đã tặng An Nam Quốc vương một viên ngọc Như ý, một tòa Ngọc phật, tặng cả đoàn một vạn lạng bạc…

Vì sao Phạm Công Trị lại về nước?

Phác họa chân dung Quang Trung trên một tờ tiền giấy.
Phác họa chân dung Quang Trung trên một tờ tiền giấy.

Việc cử “vua giả” sang chầu Càn Long là một điều bắt buộc, một sự vạn bất đắc dĩ bởi nó là sự mạo hiểm chết người đối với các nhà ngoại giao của cả hai bên. Vì vậy, việc tính toán kỹ lưỡng, chi tiết cho cho chuyến đi này là vấn đề sống còn của cả hai bên. Có ai dám chắc rằng, trong cả quá trình đi hàng mấy tháng trời qua rất nhiều địa điểm đón tiếp, không phạm phải những sơ suất mà chân tướng vua giả sẽ lộ ra?

Ai dám đảm bảo rằng, trong số rất nhiều vong thần nhà Lê, những kẻ tử thù của Tây Sơn hiện đang nhan nhản ở vùng sát biên giới (bên phía Trung Quốc) nhận diện ra Quang Trung giả? Chính vì vậy mà Nguyễn Quang Thùy chính là nhân vật chính của phương án 2, nếu phương án 1 là Quang Trung giả bị bại lộ.

Ở đây ta thấy cái tài khôn khéo của các nhà ngoại giao Tây Sơn, đó là trong giả có thật, trong thật có giả. Quang Trung là giả, nhưng con Quang Trung là Quang Thùy lại là thật. Và khi giả (phương án 1) bị bại lộ thì thực (phương án 2) sẽ thay thế, quyết không để cho công cuộc bang giao bị đổ bể. Tình huống cụ thể ở đây là, trong đoàn ngoại giao có ghi tên Phạm Công Trị (người có thực đang đóng vai Quang Trung) nhưng người mang tên Phạm Công Trị lại là một người khác (có thể chỉ là một nhân vật vô danh, một người lính chẳng hạn). Đặt trường hợp Quang Trung giả bị phát hiện là Phạm Công Trị thì tất nhiên ông phải nhận mình là Phạm Công Trị, tên tuổi ông đã được ghi rõ ràng trong danh sách ngoại giao đoàn. Lúc đó thì “Quang Trung” đành phải cáo ốm mà trở về nước, ủy thác lại cho Nguyễn Quang Thùy tiếp tục công việc. Người tháp tùng Quang Trung “giả” sẽ là Phạm Công Trị, lúc này sẽ lấy tên thật. Còn ai sẽ là Quang Trung “giả” trong vai vua ốm? Đó chính là người vô danh đội tên Phạm Công Trị lúc ra đi.

“Người vô danh” này không cần phải giống Quang Trung, bởi vì dọc đường về, do “vua” bị ốm nên sẽ ở trong xe (hoặc kiệu) được buông rèm kín không lộ diện. Tuy nhiên, điều chẳng may bị lật tẩy đó đã không hề xảy ra. Đoàn vượt biên giới Lạng Sơn vào ngày 13/4 Canh Tuất (1790). Đầu tháng 5 thì đi hết địa phận Lưỡng Quảng. Sự việc diễn ra êm đẹp. Từ đây, khi đã vào sâu trong nội địa Trung Quốc thì mối lo bị lộ tẩy do các vong thần nhà Lê hay các thế lực thù địch với Tây Sơn không còn nữa. Có nghĩa là phương án 2 không cần đến.

Lúc này, Nguyễn Quang Thùy phải trở về nước. Nguyễn Quang Thùy được phong tước Khang Công, đang lĩnh chức Tiết chế thủy bộ ở Bắc Thành (tức chỉ huy toàn bộ quân đội ở phía Bắc) ông còn nhiều việc phải làm. Phạm Công Trị trong vai Quang Trung giả cũng không có gì sơ suất, cần phải “quên” cái tên Phạm Công Trị đi. Vì vậy, “người vô danh” mang tên Phạm Công Trị trong dịp này cũng trở về với Nguyễn Quang Thùy. Như vậy, dù thực hiện phương án 1 (Quang Trung giả) hay phương án 2 (Hoàng Tử thật) thì cái tên Phạm Công Trị cũng phải được xóa bỏ trong danh sách Đoàn ngoại giao trước khi triều kiến vua Càn Long. Đó là lý do vì sao chúng ta thấy trong số những người tháp tùng Nguyễn Quang Thùy về nước lại có tên Phạm Công Trị.

Chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế

Quang Trung “giả” đã không bị bại lộ. Phái đoàn sứ bộ của ta đã thành công mỹ mãn. Vua Càn Long đã tỏ ra rất trân trọng, rất chu đáo với “Quang Trung”. Trên đất Trung Quốc phái đoàn đi đến đâu cũng được đón tiếp long trọng. Thậm chí khi Càn Long nhận được quà biếu là quả vải tươi, đã cho chạy ngựa trạm vượt hàng ngàn dặm, đem đến biếu Quang Trung lúc ấy đang trên đường đi. Xem số quả vải tươi được biếu (5 quả), trong đó vua Quang Trung được 2 quả, Phúc Khang An được 2 quả và Ngô Văn Sở được 1 quả, đủ thấy nhà Thanh quý quả vải tươi như thế nào, và tầm cỡ của người được biếu vải.

Khi phái đoàn của Quang Trung (giả) đến Nhiệt Hà để ra mắt Càn Long, vua Thanh đã tặng An Nam Quốc vương một viên ngọc Như ý, một tòa Ngọc phật, tặng cả đoàn một vạn lạng bạc, tặng Ngô Văn Sở một cái mũ san hô tam phẩm (tức công nhận Ngô Văn Sở ngang hàng quan tam phẩm nhà Thanh). Ngày 20 tháng 8 Canh Tuất (1790) vua Thanh đặt tiệc tiễn Quang Trung về nước.

Khi “Quang Trung” vào bệ kiến để từ biệt, Càn Long đã mời vào bên giường ngự, vỗ vai thân mật, sai họa sĩ cung đình vẽ một bức chân dung Quang Trung để tặng. Càn Long lại tự tay viết 4 chữ đại tự “Củng cực quy thành” (Chầu về sao Bắc đẩu với tất cả lòng trung thuận, thành thực). Sách Hoàng Lê nhất thống chí ghi chép lại: “Khi Quốc vương tới Yên Kinh, vua Thanh mừng lắm, không hề biết là Quang Trung giả. Lúc Quốc vương vào yết kiến, vua Thanh cho ăn yến với các vị thân vương, lại ban ơn đặc biệt cho làm lễ ôm gối, hệt như tình cha con trong nhà. Lúc Quốc vương lạy tạ về nước, vua Thanh sai thợ vẽ bức truyền thần mà ban cho, ân lễ rất trọng hậu, thực là một cách đối đãi khác thường từ ngàn xưa hiếm có.”

Theo Đại thanh thực lục thì số tiền nhà Thanh bỏ ra để chi tiêu vào việc đón tiếp Quang Trung trong suốt đợt đi sứ hết 80 vạn lạng bạc (con số này có thể bị khai khống lên để các quan lại địa phương có dịp bớt xén. Nhưng việc gửi quà, việc đón tiếp của Càn Long đối với Quốc vương An Nam là hết sức ân cần, chu đáo, điều đó không phải bàn cãi). Nhận xét về chuyến đi sứ này, nhà thơ Đoàn Nguyễn Tuấn, một thành viên của sứ bộ viết: “Từ trước đến nay, người mình đi sứ Trung Quốc chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế” .

PDK

Read Full Post »

Nói đến nhà Tây Sơn, người ta nghĩ ngay rằng thủ phủ của cuộc khởi nghĩa chính là vùng đất xã Kiên Mỹ, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Kỳ thực những ngày đầu ba anh em nhà Tây Sơn đã chọn vùng đất An Khê tỉnh Gia Lai để tập hợp nhân lực, đồn trữ binh lương và dựng cờ khởi nghĩa. Ngày đó vùng đất này vẫn thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, tuy nhiên ngăn cách với đồng bằng bởi dãy núi trùng điệp nên được gọi là Tây Sơn thượng đạo…

Tư liệu về Tây Sơn thượng đạo liên quan đến cuộc khởi nghĩa của 3 anh em nhà Tây Sơn gần như không được đề cập nhiều đến trong sách sử. Sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” chỉ ghi một dòng ngắn ngủi: “Năm 1771, Nhạc thiết lập đồn trại ở đất Tây Sơn thượng đạo”. Lý giải cho việc ít ỏi thông tin này, theo những lời truyền miệng của người dân ở đây, sau khi lên ngôi vua, Nguyễn Ánh đã trả thù nhà Tây Sơn một cách hèn hạ và tàn khốc. Do đó, người dân địa phương muốn thờ cũng phải giấu giếm, và tuyệt nhiên không bao giờ đề cập đến trong các sách vở. Vì vậy những gì liên quan đến ba anh em nhà Tây Sơn hiện nay còn lại chỉ qua lời kể được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Qua lời kể dân gian, những câu chuyện dần dần mang màu sắc thần thoại. Gắn với những di tích hiện có trên vùng đất này, người ta phần nào hình dung được một thời dựng nghiệp của nhà Tây Sơn. Chuyện Nguyễn Nhạc có vợ là người dân tộc Ba Na được người dân nơi đây khẳng định là sự thực.
Vị trí hiểm địa để lập căn cứ
Theo sử sách, từ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, Tây Sơn thuộc phủ Quy Nhơn, bao gồm từ đồng bằng phía bắc tỉnh Bình Định lên đến vùng cao nguyên phía tây dãy Trường Sơn hùng vĩ. Phía đồng bằng được gọi là Tây Sơn hạ đạo, vùng đất phía tây bên kia dãy đèo Mang hiểm trở tức đèo An Khê được gọi là Tây Sơn thượng đạo, nay là các huyện An Khê, K’Bang, Kon Ch’ro của tỉnh Gia Lai. Ngày ấy, theo lời khuyên của sư phụ dạy võ Trương Văn Hiến, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ từ vùng đất Kiên Mỹ thuộc hạ đạo đã lên đây lập căn cứ địa. An Khê có đất đai phì nhiêu, có nhiều lâm thổ sản quý, có mỏ sắt, mỏ diêm tiêu, nhiều voi ngựa… Cư dân hầu hết là người Ba Na và một số nông dân miền xuôi lên khai hoang, buôn bán.
Do những điều kiện địa lý, kinh tế, chính trị trên, Tây Sơn thượng đạo nhanh chóng trở thành căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa của ba anh em nhà họ Nguyễn. Tại trung tâm lòng chảo tức thị trấn An Khê ngày nay có một con đường mang dấu tích được đắp cao, người dân gọi là “lũy ông Nhạc”, và đây chính là trung tâm, chỉ huy sở của nghĩa quân.
Căn cứ đồn lũy của nghĩa quân Tây Sơn nằm trong một vùng đất rộng khá bằng phẳng thành một lòng chảo bởi được 4 mặt che chắn: đó là quần sơn Ngọc Linh ở phía bắc tức Kon Tum, cao trên 3.000m; hai dãy núi chạy song song theo hướng Bắc Nam là đèo Mang (đèo An Khê) và đèo Mang Yang (Cổng Trời); phía đông và đông nam có dãy Trụ Lĩnh trùng điệp bao bọc với những dãy núi cao bình quân trên 400m so với mặt nước biển; kế bên đó, con sông Ba và suối Cái làm thành hai chiến hào thiên nhiên bao bọc lấy mặt tây và nam. Toàn bộ khu vực này một lần nữa lại được bao bọc bởi một vành đai núi non án ngữ ở phía đông gồm dãy đèo Mang nhiều ngọn núi cao dưới 1.000m, sườn đông dốc đứng cùng với 3 ngọn núi lớn là hòn Bình, hòn Nhược và hòn Tào tạo thành bức tường thành thiên nhiên vĩ đại.
Trong số 3 ngọn núi nhìn về phía đông, thì núi ông Bình (chỉ Nguyễn Huệ, cách gọi khác đi để che mắt nhà Nguyễn) cao nhất, đến 814m. Đứng ở đây, nghĩa quân có thể quan sát đến tận vùng hạ đạo, bờ biển Quy Nhơn. Hòn Bình nối với hòn Nhược (Nguyễn Nhạc) bằng một lũy đắp kiên cố tạo thành thế liên hoàn án ngữ phía đông và nam. Trong khi đó dưới chân hòn Tào (Nguyễn Lữ) là khu vực gò Kho, xóm Ké, nơi nghĩa quân đồn trữ binh lương.
Mặc dù được các bức tường thành thiên nhiên là núi non bao bọc bốn bên, nhưng từ Tây Sơn thượng đạo theo nhiều con đường xuyên sơn khác có thể đi ra các tỉnh phía bắc bằng con đường sang Kon Tum xuống Quảng Nam ra Huế; còn phía nam, sông Ba và các con đường mòn dọc theo các sông, suối tạo thành nhiều đường giao thông thủy bộ quan trọng, nối liền Tây Sơn thượng đạo với vựa lúa Phú Yên và các tỉnh Nam Trung Bộ. Chính vị trí và địa hình ấy tạo cho An Khê có một địa bàn chiến lược lợi hại. Có thể coi vùng này như một bậc thang quan trọng giữa đồng bằng và Tây Nguyên. Từ đây nghĩa quân có thể tiến công xuống đồng bằng và rút về phòng thủ thuận lợi.
 
Dâng hương tưởng niệm Vua Quang Trung tại bảo tàng Tây Sơn thượng đạo.
Người vợ Ba Na của Nguyễn Nhạc 
Từ thị trấn An Khê đi về phía nam thị trấn chừng 8 cây số, người ta thấy một hòn đá hình chiếc ngai nằm bên bờ con suối Chơ Ngao tại làng Đê Chơ Gang thuộc xã Phú An. Người dân Ba Na đến giờ vẫn kính cẩn gọi đó là “to mo bok Nhạc” tức “hòn đá ông Nhạc”. Lời kể của cụ Huỳnh Ngọc Chương năm nay trên 90 tuổi, có 6 đời lập nghiệp tại An Khê, kể rằng ngày ấy có một người đàn ông người Kinh thường đến vùng này mua trầu, người ta gọi ông là ông Hai Trầu. Ông Hai Trầu vẫn thường ngồi nghỉ chân tại hòn đá này, và sau này là nơi gặp mặt hội họp tướng lĩnh. Từ đời này qua đời khác, hòn đá này được coi là vật thiêng của làng. Ông Hai Trầu chính là Nguyễn Nhạc, người khởi nghiệp của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.
Tuy nhiên, nếu không có một người con gái Ba Na thông minh và xinh đẹp giúp sức thì Nguyễn Nhạc cũng khó lòng chiếm được cảm tình của người dân Ba Na nơi đây. Nàng tên là Ja Dok (đọc là Gia – Tót), con của vị tù trưởng Ba Na hùng mạnh và giàu có. Những ngày Nguyễn Nhạc lên đây buôn bán trầu, bà có cảm nhận người này không chỉ đi buôn mà đang ấp ủ một việc lớn. Cảm tấm lòng người anh hùng, bà Ja Dok nhận làm vợ của ông. Ngày nay dân làng Si Tơ, xã Tơ Tung, huyện K’Bang không những tự hào là quê hương của anh hùng Núp, mà còn tự hào là nơi đã cung cấp cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn một nữ nhân anh kiệt. Dưới sự giúp sức của bà, Nguyễn Nhạc đã lấy được lòng cha bà là vị tù trưởng. Bà đã vận động cha và dân trong vùng ủng hộ cho nghĩa quân Tây Sơn 300 thớt voi, 400 ngựa và hàng trăm gùi lương thực.
Kể từ đó công việc của bà gắn với hoạt động của nghĩa quân. Hiện nay dưới chân núi Ca Noong thuộc thôn Tú Thủy, xã Nghĩa An, huyện K’Bang hiện còn cánh đồng chừng 20ha, gọi là cánh đồng Cô Hầu, và một vườn khoảng 500 cây mít, vẫn còn những cây mít cổ thụ, đến mùa vẫn ra sai quả. Đây là nơi bà Ja Dok khai phá để sản xuất nuôi quân. Ngày đó từ thị trấn An Khê đi về phía nam là con đường độc đạo bé xíu, nhưng bà và Nguyễn Nhạc cũng đã đi cả trăm dặm đường vào tận làng Đê H’lang, xã Yang Nam, huyện Kông Chro, dưới chân núi Ja Prum để thuyết phục đồng bào Ba Na nơi đây đi theo cuộc khởi nghĩa.
Tại đây hiện giờ còn dấu tích của nền nhà, nhiều mảnh ngói vảy cá, một hồ nước xây bằng đá tổ ong. Mỗi khi đi qua đây, người dân tộc Ba Na vẫn bày tỏ niềm kính cẩn. Họ nói rằng đó là nền nhà của Nguyễn Nhạc. Cách nền nhà 500m, trong một hốc đá kín đáo bên bờ suối có nhiều đồng tiền xu bằng đồng, gọi là “kho tiền Nguyễn Nhạc”. Trong đợt khảo sát năm 1990, ngành văn hóa thông tin tỉnh Gia Lai sưu tầm được 15 đồng tiền xu gửi tặng Bảo tàng Quang Trung ở Bình Định.
Người dân vùng này kính trọng gọi bà Ja Dok bằng tên ngọn Ja Prum, ngọn núi cao nhất trong vùng. Sau khi bà mất đi, người Ba Na đã an táng bà trên ngọn núi cao nhất phía đông và lấy tên bà đặt cho ngọn núi, núi Ja Dok. Ngày nay dân làng Si Tơ và cả anh hùng Núp ngày còn sống, vẫn cho rằng trong làng vẫn còn dòng giống của nữ chúa.
Truyền thuyết về một thời dựng nghiệp
Tại thôn An Thượng, xã Song An, huyện An Khê, ngay trên trục quốc lộ 19 có một ngôi miếu nhỏ, gọi là miếu Xà. Chuyện tương truyền rằng, năm 1773, khi ba anh em nhà Tây Sơn xuất quân tiến xuống đồng bằng. Khi đến khúc ngoẹo Cây Khế tại đèo Mang (là khúc cua tay áo tại đèo An Khê hiện nay), bất ngờ có một con rắn đen như gỗ mun, to như cột đình ra nằm chặn giữa đường. Trong hàng ngũ tướng lĩnh và nghĩa quân có người cho rằng đây là điềm gở, đề nghị thâu quân. Nhưng Nguyễn Huệ đã tiến lên, rút kiếm chém đứt đôi con rắn, lấy máu tế cờ và hòa rượu cho binh sĩ uống. Sau đó Nguyễn Huệ cho người trèo lên cây ké phất cờ và cây cầy gần đó nổi trống làm hiệu tiến binh. Từ lần xuất quân đó, Nguyễn Nhạc đã lấy được thành Quy Nhơn.
Câu chuyện truyền thuyết về Nguyễn Huệ như người anh hùng đất Bái trảm xà khởi nghĩa, theo lời kể của cụ Đỗ Tùng ở tại thôn An Thượng, xã Song An (đã mất). Sau khi thắng trận, Nguyễn Nhạc cho lập miếu thờ rắn thần tại ngoẹo Cây Khế, nhưng do thời gian và biến loạn nên người dân đưa miếu Xà về thôn An Thượng. Riêng cây cầy và cây ké, đã qua hơn 200 năm nên không còn dấu tích.
Để có được đội binh hùng tướng mạnh, ba anh em nhà Tây Sơn thời kỳ đầu đã có những cách thuyết phục người dân Ba Na khá ngoạn mục. Chuyện rằng lúc mới lên đây, người Ba Na thấy ba anh em Nguyễn Huệ còn trẻ tuổi nên không phục. Trước mặt dân làng, Nguyễn Huệ thách ai nhấc nổi tảng đá trên trăm cân thì làm vua. Không ai nhấc nổi, chỉ có Nguyễn Huệ nhấc lên nhẹ nhàng. Nguyễn Huệ đã cho lấy mật, mỡ viết vào lá cây rừng chữ “Nhạc làm vua, Huệ làm tướng, Lữ làm quan”. Loài kiến ăn theo đó thủng lá thành chữ. Sau đó Nguyễn Huệ sai người cứ nửa đêm lên ngọn Mò O đốt lửa. Người Ba Na lên xem, tin đó là lời Giàng phán, từ đó nghe theo.
Một kỳ công khác là Nguyễn Huệ đã chinh phục đàn ngựa rừng và từ đó thu phục vị tù trưởng Xê Đăng. Hồi đó trên núi Hình Hốt (còn gọi là núi Hiển Hách) có đàn ngựa rừng rất hung hãn, thường về phá rẫy nương của đồng bào. Nguyễn Huệ cho lựa trong bầy ngựa nhà một số ngựa cái thật sung sức, thả ra. Cứ đến chiều, ông lại ra gọi bầy ngựa cái chạy về và cho ăn cỏ. Bầy ngựa rừng lâu ngày thành quen, nhập cuộc với bầy ngựa nhà và sau này, mỗi lần ông gọi cũng theo ngựa nhà chạy đến. Vị tù trưởng Xê Đăng thấy Nguyễn Huệ gọi được bầy ngựa rừng, nghĩ rằng đây là người của Giàng, từ đó quy phục và ủng hộ lương thảo, binh lính cho nghĩa quân.
Còn rất nhiều câu chuyện và dấu tích của nhà Tây Sơn tại vùng đất Tây sơn thượng đạo này. Ở phía nam huyện An Khê, vùng Bà Giang thuộc xã Bắc Giang, có một hồ cá xây bằng đá ong mang tên “hồ ông Nhạc”. Gần đấy có một đập nước lớn gọi là “sa khổng lồ”, nhân dân địa phương quen nói “sa khổng lồ, hồ ông Nhạc”. Tương truyền rằng đó là hồ nước ăn của nghĩa quân. Kế đó có Hóc Yến và núi Lãnh Lương, nơi Nguyễn Nhạc mở tiệc khao quân và phân phát lương thực.
Ngoài việc thu phục người Ba Na, tại đây ba anh em nhà Tây Sơn cũng đã thu phục được những tướng tài cho cuộc khởi nghĩa. Tương truyền rằng khi nghĩa quân còn ở đây, Trần Quang Diệu đã từ Hoài Ân, Bình Định tìm đến. Giữa đường, Trần Quang Diệu bị cọp tấn công và ông đã đánh lại. Quần nhau nửa ngày trời, Trần Quang Diệu xuống sức và may sao lúc đó Bùi Thị Xuân cũng đang trên đường tìm Nguyễn Nhạc đầu quân, nhìn thấy và  giương cung bắn chết cọp.
Cũng trên vùng đất thượng đạo này, cơ duyên đã đưa Vũ Văn Dũng đến với nghĩa quân. Một hôm ba anh em Nguyễn Huệ đi trên một con đường hiểm yếu, nghe một tiếng quát vang cả núi rừng, chim bay tan tác. Một tướng cướp vai hùm lưng gấu nhảy xổ ra và tấn công. Nguyễn Nhạc nghênh chiến. Hai bên quần nhau mấy trăm hiệp, không phân thắng bại. Nguyễn Huệ đứng ngoài xem và thấy đường võ của tên cướp rất giống những ngón đòn thầy dạy, bèn kêu dừng trận đánh lại và hỏi. Hóa ra tướng cướp tên là Vũ Văn Dũng, cùng học võ ở thầy Hiến. Nhận ra đồng môn, Vũ Văn Dũng về đứng dưới cờ Tây Sơn và sau này lập nhiều chiến công hiển hách.
Đặng Vỹ

Read Full Post »

Lam Hồng

<<Trước<< 63.Di mệnh của Quang Trung

Trời đất sụp tang thương dâu bể

3350.Ánh mặt trời lặng lẽ tắt sao

“Từ khi áo vải cờ đào

Giúp dân dựng nước, xiết bao công trình”

Người đi sớm dở dang, dang dở

Thế sự tình, người mở ai mang

Làm thân vương hậu Bắc cung

Người đi, ta ở dương trần với ai

Từ áo vải hùng tài dựng nghiệp

Cứu muôn dân, khỏi kiếp lầm than

Phù Lê diệt Trịnh giúp an

Diệt Xiêm, dẹp lọan, chinh nam bao lần

Lòng quảng đại bao dung Lê tộc

Dẫu Hoàng tôn bán nước cầu vinh

Dẹp tan xâm lược Mãn Thanh

Khuyến nông thịnh trị, thanh bình nơi nơi

Cầu hiền sĩ, tìm người lương đống

Khuyến học tài, mở rộng cùng thôn

Người vì một chữ nước non

Người đi xa khuất, mõi mòn cùng ai

Người đi sớm trăm cay, nghìn thảm

Biết ai người cáng đáng nước non

Quốc vương tuổi quá thơ son

Trăm công nghìn việc, gánh dồn được sao

Thiên tài lá cờ đầu đã khuất

Nỗi đau thương, nước mắt chứa chan

Mong sao thay chết vạn lần

Cho người sống mãi, dương trần nghiệp chung

Người lìa bỏ bi hùng, ai oán

Lệ sầu thương cạn máu trái tim

Người đi sao nỡ, sao đành

Rời nguồn, bỏ cội, lìa cành, xa cây

Việc lớn lao, biết ai chỉ bảo

Việc nhìn xa ai thấu, ai tường

Ai người, giữ mối cầm cương

Ai người vạch lối, chỉ đường bước đi

Người đi, ta còn gì thiết sống

Nỗi ai tư sầu mộng cầm canh

Hương người còn đó quẩn quanh

Dáng người khuất lối, non xanh biệt ngàn

Đau đòi đoạn, thở than u uất

Người sao đành, xa khuất viễn phương

Nỗi đau xé nát can trường

Người đi sầu mộng, tang thương một đời

Con thơ dại phận côi cút quá

Giọt chung tình lìa nỡ đành sao

Người đi, đi chốn xa nào

Để bi thương lại, nỗi đau trùng trùng

Người cách biệt, sống mong như chết

Nỗi tang thương, thống thiết man man

Lệ máu tuôn chảy hàng hàng

3400.Chàng ơi cho thiếp, theo chàng chàng ơi.

Hết

Read Full Post »

Lam Hồng

<<Trước<< 62. Chuẩn bị thống nhất sơn hà

Xuân Nhâm tý nam kha dậy mộng

Bắc cung mơ lòng bỗng nao lòng

Mặt trời rụng giữa thu phân

Để đông giá buốt, để dân mãi còn

Đường thăm thẳm, mõi mòn trông ngóng

Ai dắt dìu, giữ mộng an bang

Tỉnh ra còn hãi mơ màng

Khấn cầu vọng thỉnh, bàng hoàng chỉ mơ

¯

Đêm thức trắng mãi lo quốc sự

Bắc cung vời yên ngủ bao lần

Mà lòng nặng việc quốc quân

Canh khuya mãi thức, lo an cho cùng

Bỗng trời đất như rung, như chuyển

Việc thuận thành, tai biến mệnh vua

Đất trời đã hẫng bao giờ

Máu như tắt nghẽn, mắt mờ tối om

Đầu như loãng, như phân, như cắt

Sức phi thường sao mất, sao xa…

Ngự y ngày lại, ngày qua

Dược thần, y thánh xót xa vẫn còn

Truyền chỉ ý quốc thần khẩn cấp

Vào nội cung hội gặp quốc quân

Truyền lời khẩn thiết vô cùng

Phải lo việc nước, phải an việc nhà

Ta di mệnh tang gia nhỏ lễ

Phải an dân gốc rễ bền lâu

Đồng lòng chung sức với nhau

Thái tử khí tiết, nhưng đầu thơ xanh

Nạn lớn nhất tranh giành chia cắt

Họa phương Nam một mất một còn

Chủng Ánh lực thế mạnh hơn

Không đồng tâm lực, khó mong trường tồn

>>Tiếp>> 64 . Ai tư buốt nhói Ngọc Hân

Read Full Post »

Lam Hồng

<<Trước<< 61.Cầu hôn công chúa Mãn Thanh-Xin đất Lưỡng Quảng làm hồi môn

Đất Phú Xuân quân binh điều động

Đội chiến thuyền vũ lộng ra oai

Không để ác mộng đêm dài

Không để ung nhọt, cái gai trong lòng

Trời qua xuân, thuyền rong gió thổi

Cuộc tiến công, quét đuổi cho xong

Đừng hòng trốn tránh tây, đông

Đừng hòng rình rập, chờ mong phục quyền

Phương lược đánh, điều nghiên đã kỹ

Cách tấn công tỉ mỉ chưa từng

Chiến thuyền, hậu bị, quân, lương

Cách đánh, cách giữ, khai mương lập làng

Giữ tổ quốc giang san một mối

Từ Bắc quan tận mũi cùng Nam

Không còn cát cứ cách ngăn

Thống nhất bờ cõi, nước non một nhà

>>Tiếp>> 63. Di mệnh của Quang Trung

Read Full Post »

Lam Hồng

<<Trước<< 60. Thái Đức an phận-Quên mộng đồ vương

Hận quốc sỉ, Hán mong nội loạn

3250.Gương Nam vương dậy sáng niềm tin

Phản Thanh đã nổi rộ lên

Từ nơi phố thị đến miền xa xăm

Phục quốc Minh đã lan cùng khắp

Binh Thanh triều phải dập, phải ngăn

Hờn căm dậy lửa hờn căm

Can qua đã động, vướng ngàn gian nguy

¯

Nước đã mạnh ân uy cũng đủ

Một nước cờ để thử Mãn Thanh

Một là tạo lập uy danh

Bằng vai phải lứa, hùng anh với người

Hai cho biết đất trời nước Việt

Chỉ một tâm một chí một lòng

Đừng mong chia cắt non sông

Vì ngai quyền lực, đành lòng cam tâm

Vì nghiệp cả muôn dân trên hết

Máu đã tô sử Việt ngàn năm

Trái tim chia cắt sao cam

Dân Việt thống nhất Bắc Nam một trời

¯

Lập phái bộ qua nơi Thanh quốc

Khi chánh cung cách mặt xa trời

Cầu hôn công chúa nước người

Nắn gân, thử cốt xem đời ra sao

Thỉnh hôn biều, thỉnh cầu thượng quốc

Mong lượng trời mưa móc ân sâu

Phái bộ Văn Dũng dẫn đầu

Quang Trung ý nguyện dâng trao Mãn triều

“Thần vốn dĩ xa xôi vương hóa

Muốn cận thân để thỏa ơn sâu

Để nghe Thánh ý nhiệm màu

Sửa mình, đức hóa mong cầu thánh ân

Mong muốn được con dân một thuở

Lượng cao dày che chở phúc an

Lòng thành táo bạo cầu thân

Ngóng trông Thánh ý đoái lòng cầu mong

Ơn lượng cả con trong một nước

Đất phương xa cách lộc thánh ân

Mong sao gần gũi đế quân

Thiên đô Lưỡng Quảng để gần ơn cao”

¯

Các thân vương, hội trào nghị họp

An Nam vương nguyện ước cầu thân

Muốn làm phò mã quốc quân

Lưỡng Quảng chia đất đòi phần hồi môn

Người Hán tộc nổi cơn binh lửa

Đất Quảng Tây, chất chứa phản loàn

Bao nhiêu lần dẹp chưa an

Cần phò mã giỏi hùng tâm gánh cùng

Giao Lễ bộ định phần nghi thức

Phân định ngày kết ước giao hôn

Vua Việt phò mã chi quân

3300.Kết duyên công chúa tuyệt trần Mãn Thanh

>>Tiếp>>62. Chuẩn bị thống nhất sơn hà

Read Full Post »

Lam Hồng

<<Trước<< 59. Quốc sách cường thịnh quốc gia-Thống nhất nước nhà

Trung Ương đế chưa chiều, xế bóng

Ngôi chưa cao, dục vọng đam mê

Thân vua phong thái buôn bè

Mong lợi trước mắt, không dè hại sau

Quên cốt cách, ngồi cao trông rộng

Quên tâm cơ, đồ mộng bá vương

Giữ mình quanh quẩn Qui Nhơn

Yên mình cát cứ, sứ quân vương triều

Cuộc tranh đấu, phải tiêu phải diệt

Phải hiểu ta, thấu biết lực người

Chiến trường phải cuộc dạo chơi

Mà vui mỹ nữ, ngọt lời ca xang

¯

Trách nhiệm nặng, vai mang đầu nghĩ

Phải nêu cao hùng khí Lạc Hồng

Giữ tình để được chung lòng

Dân Việt thống nhất, mới mong nước cường

Không thể để đau thương, chia cắt

Một trái tim cắt rạch làm ba

Nỗi đau âm ỉ xót xa

Đớn đau nhứt nhối, phong ba trong lòng

>>Tiếp>>61. Cầu hôn công chúa Mãn Thanh-Xin đất Lưỡng Quảng làm hồi môn

Read Full Post »

Lam Hồng

<<Trước 58. Thủ đoạn bang giao Mãn Thanh

Cuộc hưng quốc an bề mở lối

Từ cùng sơn, đồng nội, đế kinh

Nước cường, dân thịnh thái bình

Thể chế, ngụ nông ư binh tiền triều

Trai đến tuổi phải theo quân ngũ

Học quân binh phòng giữ nước nhà

Binh đao khí giới rèn qua

Thủy binh, bộ chiến, giang hà, núi non

Luyện chính quân, khai sơn lập ấp

Dẫn thủy nông, đào đắp kênh mương

Song hành công việc thao trường

Chiến trường thân lính, ruộng vườn thân nông

Nước mạnh cường, đã trông, đã thấy

Nét xuân tươi hồng mãi bờ môi

Rực trên ánh mắt rạng ngời

3200.Lời ca rộn rã, tiếng cười vang vang

¯

Đã mấy bận đông sang, xuân lại

Đào nụ hồng vươn mãi cánh xuân

Đào vương vào hội ngàn năm

Cây thẫm đỏ sắc, dậy mầm hồng tươi

Đào sôi sục nhựa tươi trẩy lộc

Lá xanh um, mưa móc thấm nhuần

Bàn tay chăm bón vẫn từng

Hoa hồng xuân sắc, tưng bừng hội xuân

¯

Dân khắp chốn vui mừng an lạc

Một đất trời, dậy ngát hương hoa

Cùng sơn rộn rã lời ca

Kinh kỳ, phố hội, đèn hoa kết mừng

Xuân đã đến mùa xuân mãi mãi

Hoa đã hương, cây trái đã tươi

Hân hoan trên nét môi cười

Rạng rỡ trên khắp mặt trời bé con

Đất nước đã, tươi son điểm phấn

Ngày mỗi ngày, hồng thắm trời xuân

Mặt trời chói lọi ánh dương

Của rơi đem trả, người thương mến người

¯

Trời đất Bắc, hồng tươi nhuận sắc

Phải làm sao rỡ mặt Việt hùng

Bắc Nam dòng máu Lạc Hồng

Phải làm rạng rỡ con Rồng, cháu Tiên

Việc trước nhất, định yên phương Bắc

Để yên lòng thống nhất nước Nam

Phương bắc không phải lo toan

Phương nam bình định, dẹp tan Nguyễn triều

>>Tiếp> 60.Thái Đức an phận-Quên mộng đồ vương

Read Full Post »

Older Posts »

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.