Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘Áo vải cờ đào’ Category

Click  vào dấu mũi tên trên thanh  giao diện để có thể nghe nhạc giao hưởng

“Ra sức trừ khử sự đau khổ cho dân, vì cả cõi đời này mà tiêu diệt hết mọi sự bất bình, đó là sở nguyện của ta” – Nguyễn Trọng Trì (Tây Sơn lương tướng ngoại truyện. Nguyễn Đô đốc Văn Tuyết ngoại truyện).

DANH TƯỚNG TÂY SƠN

Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ không mấy ai phải chịu sự thiệt thòi lớn lao như các danh tướng Tây Sơn. Họ có cả một đời xông pha oanh liệt với hàng loạt những võ công kiệt xuất, nhưng, sử sách ghi chép về họ lại quá ít ỏi. Họ đã anh dũng chiến đấu quên mình vì nghĩa cả là cứu nước và cứu dân, nhưng ngay sau đó sự nghiệp phi thường của họ đã bị quá nhiều những cây bút thù nghịch tìm cách xuyên tạc. Chẳng phải là ngẫu nhiên mà tác giả của Tây Sơn lương tướng ngoại truyện là Nguyễn Trọng Trì đã có những lời cảm vịnh vừa hùng tráng lại vừa man mác một nỗi buồn không nguôi:

“Tướng quân chiến mã kim hà tại?
Dã thảo nhàn hoa mãn địa sầu”.

(Chiến mã của tướng quân giờ ở nơi đâu?
Cỏ hoa đồng nội đất đầy sầu).

Nguyễn Văn Tuyết người huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định), sinh và mất vào năm nào chưa rõ. Có truyền thuyết dân gian nói rằng, ông là cháu họ của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, nhưng không thấy tài liệu thư tịch nào xác nhận điều này.

Theo Nguyễn Trọng Trì (Tây Sơn lương tướng ngoại truyện. Nguyễn Đô đốc Văn Tuyết ngoại truyện) và theo một vài chuyện kể dân gian thì trước năm 1771, Nguyễn Văn Tuyết là một trong số những người du thủ du thực, sống phiêu bạt khắp đó đây. Sau nhờ một người thầy dạy võ hết lòng yêu thương chỉ vẽ, lại còn đem con gái gả cho, Nguyễn Văn Tuyết đã trở thành người quyết chí đem tài sức của mình ra cứu khổ cho dân. Ông cùng vợ về quê nhà, tham gia khởi nghĩa Tây Sơn và nhanh chóng được anh em Tây Sơn trọng dụng.

Là bậc võ nghệ cao cường lại giàu mưu lược và có biệt tài cầm quân, Nguyễn Văn Tuyết được phong dần lên đến Đô đốc. Năm 1788, trước khi rút về Phú Xuân, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã thành lập một Bộ chỉ huy quân đội Tây Sơn ở Bắc Hà và giao cho Đại Tư mã Ngô Văn Sở đứng đầu. Trong Bộ chỉ huy ấy có Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết.

Cuối năm 1788, 29 vạn quân Mãn Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu đã tràn sang xâm lược nước ta. Trước tình thế nguy cấp đó, Đại Tư mã Ngô Văn Sở đã triệu tập một cuộc hội nghị quân sự cao cấp ngay tại kinh thành Thăng Long. Hội nghị đã thống nhất hai vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Một là phải cấp báo cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ở Phú Xuân. Hai là triệt để thực hiện ý kiến xuất sắc của Ngô Thì Nhậm, rút quân về Tam Điệp và Biện Sơn để bảo toàn lực lượng, chờ cơ hội đánh trận quyết định số mạng của quân xâm lược Mãn Thanh. Người được Bộ chỉ huy quân đội Tây Sơn ở Bắc Hà tin cậy, trao phó trọng trách gấp rút trở về Phú Xuân một cách an toàn để cấp báo tình hình nguy cấp cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ là Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết.

Khi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế ở núi Bân (Huế), Đô Đốc Nguyễn Văn Tuyết được giao trách nhiệm gấp rút chuẩn bị cho cuộc hành quân thần tốc ra Bắc Hà. Khi Quang Trung Nguyễn Huệ cầm quân ra Bắc, Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết có vinh dự được cùng hành quân ra. Tại Nghệ An và tại Thanh Hóa, Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết vừa có công tuyển lựa, lại vừa có công huấn luyện cấp tốc cho binh sĩ của Tây Sơn.

Tại Tam Điệp và Biện Sơn, Quang Trung Nguyễn Huệ chia quân làm 5 đạo, nhất tề tiến thẳng ra Bắc. Hai trong số 5 đạo ấy là thủy quân và một trong 2 đạo thủy quân ấy do chính Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết chỉ huy. Đó là một trách nhiệm lớn, cũng là một vinh dự lớn của Nguyễn Văn Tuyết.

Theo kế hoạch của Quang Trung Nguyễn Huệ, đạo thủy quân do Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết chỉ huy có nhiệm vụ vượt biển tiến vào khu vực sông Lục Đầu, tiêu diệt một bộ phận lực lượng của Lê Chiêu Thống đang đóng giữ tại đây, sau đó, tiến lên uy hiếp phía Đông của kinh thành Thăng Long, tạo cơ hội cho đạo quân chủ lực có thể tràn lên một cách dễ dàng. Và Đô đốc Nguyễn  Văn Tuyết đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, góp phần rất đáng kể vào thắng lợi chung của quân đội Tây Sơn trong trận quyết chiến chiến lược Ngọc Hồi – Đống Đa lịch sử.

Sau trận đại phá quân Mãn Thanh Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết tiếp tục có thêm nhiều cống hiến đối với chính quyền của Quang Trung Nguyễn Huệ. Ông là một trong những võ quan cao cấp nhất, một trong những chỗ dựa quan trọng của Quang Trung Nguyễn Huệ về hoạt động của các lực lượng vũ trang.

Năm 1792, Quang Trung Nguyễn Huệ đột ngột qua đời, vua kế vị là Quang Toản không đủ năng lực, càng không đủ uy tín để giữ gìn và phát huy những thành tựu của vua cha để lại. Chính quyền của Quang Toản bị chia rẽ và mất đoàn kết ngày càng nghiêm trọng. Lợi dụng cơ hội đó, Nguyễn Ánh đã liên tục tổ chức phản công. Năm 1802, Nguyễn Ánh chiếm lại được toàn cõi nước ta, triều Nguyễn được dựng lên kể từ đó.

Thời Nguyễn, một trong những chính sách lớn được đặt ra là trả thù một cách thậm tệ đối với những người theo Tây Sơn. Nhiều thuyết nói rằng, Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết đã bị Nguyễn Ánh giết hại, tuy nhiên cũng có thuyết nói rằng, Nguyễn Văn Tuyết đã trốn được và sống mai danh ẩn tích cho đến ngày qua đời. Hiện chưa rõ ông thọ bao nhiêu tuổi.

Nay, tại đường Hoàng Diệu (quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh) có một ngôi đền thờ cũng là nhà thờ của dòng họ Nguyễn Văn Tuyết. Ở đấy, con cháu Nguyễn Văn Tuyết vừa thờ tổ tiên của mình là Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, lại vừa thờ Đô đốc Long. Đô đốc Long nói đến ở đây có lẽ là Đô đốc Đặng Văn Long, người huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định), tức là đồng hương với Nguyễn Văn Tuyết (Tây Sơn lương tướng ngoại truyện. Nguyễn Đô đốc Văn Tuyết ngoại truyện). Theo lời giải thích của dòng dõi Nguyễn Văn Tuyết thì sở dĩ họ thờ Đô đốc Long ở đây vì sinh thời, Đô đốc Long là thầy dạy võ của Nguyễn Văn Tuyết. Tuy nhiên, tư liệu về Đô đốc Đặng Văn Long còn quá sơ sài, cho nên, chúng tôi chưa dám giới thiệu gì về ông.

Nguồn: Danh tướng Việt Nam – Tập 3 / Nguyễn Khắc Thuần.

Read Full Post »

Click một lần vào dấu mũi tên trên thanh  giao diện để có thể nghe nhạc giao hưởng hùng ca

“Nam nhi bật hướng sa trường tử, / Cao ca nhất khúc khán Thị Xuân”. / Nếu nam nhi mà không hướng về sa trường để chết, / Hát lớn một khúc ca mà xem gương Bùi Thị Xuân) -
Nguyễn Trọng Trì (Tây Sơn lương tướng ngoại truyện. Bùi Phu nhân ca)

DANH TƯỚNG TÂY SƠN

Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ không mấy ai phải chịu sự thiệt thòi lớn lao như các danh tướng Tây Sơn. Họ có cả một đời xông pha oanh liệt với hàng loạt những võ công kiệt xuất, nhưng, sử sách ghi chép về họ lại quá ít ỏi. Họ đã anh dũng chiến đấu quên mình vì nghĩa cả là cứu nước và cứu dân, nhưng ngay sau đó sự nghiệp phi thường của họ đã bị quá nhiều những cây bút thù nghịch tìm cách xuyên tạc. Chẳng phải là ngẫu nhiên mà tác giả của Tây Sơn lương tướng ngoại truyện là Nguyễn Trọng Trì đã có những lời cảm vịnh vừa hùng tráng lại vừa man mác một nỗi buồn không nguôi:

“Tướng quân chiến mã kim hà tại?
Dã thảo nhàn hoa mãn địa sầu”.

(Chiến mã của tướng quân giờ ở nơi đâu?
Cỏ hoa đồng nội đất đầy sầu).

“Cổ kim bất phạp chân anh hùng,
Năng ngự ngoại hồi vi thượng công.
Tráng tai Thị Xuân kì nữ tử,
Thống suất tì hưu biến Tây-Đông.

Tổ tông cương thổ bất dung vong,
Nam nhi tử tất tại sa trường.
Nam nhi bật hướng sa trường tử,
Cao ca nhất khúc khán Thị Xuân”.

(Nguyễn Trọng Trì. Tây Sơn lương tướng ngoại truyện.
Bùi Phu Nhân ca
)

Nghĩa là:

“Xưa nay chẳng thiếu các bậc thực sự anh hùng,
Có thể ngăn giặc ngoài làm nên công cao.
Mạnh thay Bùi Thị Xuân, người con gái lạ lùng,
Cầm quân vùng vẫy khấp Tây-Đông.

Đất đai tổ tông không thể để mất,
Nam nhi hẳn nhiên phải chết ở chốn sa trường.
Nếu nam nhi mà không hướng về sa trường để chết,
Hát lớn một khúc ca mà xem gương Bùi Thị Xuân”.

Bùi Thị Xuân người làng Xuân Hòa, huyện Bình Khê (nay thuộc tỉnh Bình Định), sinh năm nào chưa rõ. Bà là vợ của Thiếu phó Trần Quang Diệu, vì thế, đời vẫn thường gọi bà là Bà Thiếu phó.

buithixuan1

Năm 1771, khi Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa ở Tây Sơn, bà cũng là một trong những người nhiệt liệt tham gia hưởng ứng đầu tiên. Trong khởi nghĩa Tây Sơn nói riêng và trong lịch sử quân sự Việt Nam nói chung, Bùi Thị Xuân là một hiện tượng rất đặc biệt. Cùng với chồng và hàng vạn các nghĩa sĩ Tây Sơn, bà đã đi suốt cả một cuộc trường chinh ba chục năm trời, anh dũng chống cả thù trong lẫn giặc ngoài, một lòng một dạ vì sự nghiệp cứu dân cứu nước. Từ một phụ nữ bình thường, Bùi Thị Xuân đã trở thành một danh tướng được đời đời kính trọng.

Bấy giờ, bà vừa là vợ lại cũng vừa là một thuộc tướng của Thiếu phó Trần Quang Diệu. Mỗi khi ra trận, Bùi Thị Xuân luôn giương cao ngọn cờ trên có thêu bốn chữ Tây Sơn Nữ tướng (vị nữ tướng của Tây Sơn). Hễ lá cờ này xuất hiện ở đâu là đối phương ở đó phải khiếp đảm. Dưới thời Quang Trung Nguyễn Huệ, tên tuổi của nữ tướng Bùi Thị Xuân chưa có gì nổi bật lắm, nhưng sang thời Quang Toản thì khác hẳn. Bấy giờ có hai sự kiện quan trọng liên quan trực tiếp tới bà và chính từ hai sự kiện đó, danh thơm của bà được truyền tụng mãi.

Sự kiện thứ nhất là thái độ của bà đối với Bùi Đắc Tuyên (tức Bùi Đắc Kế). Buổi đầu, Bùi Đắc Tuyên là người lập được nhiều công lao, do vậy, được Quang Trung Nguyễn Huệ phong tới hàm Thái sư. Khi Quang Trung Nguyễn Huệ qua đời, Bùi Đắc Tuyên đã tìm cách nắm lấy binh quyền và để củng cố địa vị của mình, Bùi Đắc Tuyên đã tìm cách hãm hại không ít đồng liêu. Mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Quang Toản ngày một trầm trọng. Năm 1795, Bùi Đắc Tuyên bị Võ Văn Dũng giết chết. Bấy giờ, rất nhiều người nghi ngại đối với Bùi Thị Xuân, bởi lẽ Bùi Thị Xuân là cháu của Bùi Đắc Tuyên. Nhưng khác với suy nghĩ của nhiều người, Bùi Thị Xuân đã có một thái độ rất công minh. Bà không thù oán những người đã giết Bùi Đắc Tuyên, không vì sự rối ren của triều đình mà rời bỏ vị trí chiến đấu của mình.

Sự kiện thứ hai là việc bà tham gia trận Trấn Ninh (tháng 1/1802) chống lại cuộc phản công của Nguyễn Ánh. Trong trận này, bà là người chỉ huy 5000 quân, hiên ngang tấn công một cách quyết liệt vào đội ngũ của đối phương, khiến cho Nguyễn Ánh rất khiếp sợ. Bà và chồng là Trần Quang Diệu thực sự là những hổ tướng lừng danh nhất trong giai đoạn cuối cùng của Tây Sơn. Rất tiếc là lực lượng chung của Tây Sơn đến đó đã hoàn toàn rệu rã, mưu lược, lòng dũng cảm và tài cầm quân của bà cùng với các tướng lĩnh trung thành còn lại không đủ để chống chọi. Tháng 3/1802, Nguyễn Ánh đã chiếm lại được Trấn Ninh.

buithixuan
Tượng thờ Bùi Thị Xuân – Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt, Bình Định

Năm 1802, dọc đường rút quân ra Bắc, bà cùng chồng và con gái bị quân Nguyễn Ánh bắt tại Nghệ An, sau đó, chúng đã xử tội cả gia dình bà một cách rất tàn khốc. Trần Quang Diệu bị lột da còn bà và con gái là Trần Bích Xuân thì hiện tại có hai thuyết khác nhau. Thuyết thứ nhất nói hai mẹ con bà bị xử tội lăng trì (tức là xẻo thịt từng miếng cho đến chết thì thôi). Thuyết thứ hai nói cả hai mẹ con bà bị đem ra cho voi giày. Nhưng cho dẫu là thuyết nào đúng thì việc xử tội bà cũng đều là quá tàn khốc. Và điều đáng nói là các tài liệu đều nói rằng, bà và con gái đã chết một cách rất hiên ngang, không một lời kêu than, cũng không một chút nao núng. Trong tình cảm nồng nàn và ký ức bất diệt của các thế hệ nhân dân, tên tuổi và hình ảnh của vị nữ tướng anh hùng này mãi mãi tỏa sáng:

“Bạch mã trì khu cổ chiến trường,
Tướng quân bách chiến thanh uy dương”.

(Nguyễn Trọng Trì. Tây Sơn lương tướng ngoại truyện. Bùi Phu nhân ca)

Nghĩa là:

“Ngựa trắng (chừng như) vẫn rong ruổi ở chốn chiến trường xưa,
Tướng quân (từng trải) trăm trận, tiếng tăm lừng lẫy”.

buithixuan2

Nguồn: Danh tướng Việt Nam – Tập 3 / Nguyễn Khắc Thuần

Read Full Post »

Click một lần vào dấu mũi tên trên thanh  giao diện để có thể nghe nhạc giao hưởng hùng ca

“Năm Mậu Thân (1788), đầu đời Quang Trung, quân Bắc xâm chiếm nước Nam, ông (Đặng Tiến Đông) phụng chiếu cầm đạo quân tiên phong, tiến đánh làm cho quân Bắc tan vỡ, ông một mình một ngựa tiến lên trước, dẹp yên nơi cung cấm” – Phan Huy Ích (Tông Đức thế tự bi, Chùa Thủy Lâm, thôn Lương Xá, xã Lam Điền, Chương Mỹ, Hà Nội).

DANH TƯỚNG TÂY SƠN

Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ không mấy ai phải chịu sự thiệt thòi lớn lao như các danh tướng Tây Sơn. Họ có cả một đời xông pha oanh liệt với hàng loạt những võ công kiệt xuất, nhưng, sử sách ghi chép về họ lại quá ít ỏi. Họ đã anh dũng chiến đấu quên mình vì nghĩa cả là cứu nước và cứu dân, nhưng ngay sau đó sự nghiệp phi thường của họ đã bị quá nhiều những cây bút thù nghịch tìm cách xuyên tạc. Chẳng phải là ngẫu nhiên mà tác giả của Tây Sơn lương tướng ngoại truyện là Nguyễn Trọng Trì đã có những lời cảm vịnh vừa hùng tráng lại vừa man mác một nỗi buồn không nguôi:

“Tướng quân chiến mã kim hà tại?
Dã thảo nhàn hoa mãn địa sầu”.

(Chiến mã của tướng quân giờ ở nơi đâu?
Cỏ hoa đồng nội đất đầy sầu).
ĐÔ ĐỐC ĐẶNG TIẾN ĐÔNG (1738 – ?) – MỘT TƯỚNG TÂY SƠN CHỈ HUY TRẬN ĐỐNG ĐA

(Phan Huy Lê // Nghiên cứu Lịch sử.-N.154 (1-1974))

Ngọc Hồi – Đống Đa là hai chiến thắng oanh liệt nhất, giữ vai trò quyết định thắng lợi của kháng chiến chống Thanh năm 1788-1789. Quang Trung Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy trận Ngọc Hồi. Nhưng dưới sự lãnh đạo chung của Quang Trung, ai là người đã chỉ huy quân đội Tây Sơn lập nên chiến công Đống Đa lịch sử. Sử sách chỉ ghi chép một cách sơ lược và mơ hồ: có sách chép là Đô đốc Long (Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí.-H.: Văn học Hà Nội, 1964.-Tr.362, 364; Lê Trọng Hàm. Minh đô sử, sách chép tay, q.44), có sách chép là Đô đốc Mưu (Quốc Sử Quán triều Nguyễn. Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, sách in đời Nguyễn, q.30; Đào Nguyên Phổ. Tây Sơn thủy mạt khảo, sách chép tay). Tên nhân vật đó chỉ xuất hiện một lần trong lịch sử mà ngay cả dòng họ, quê quán cũng không ai biết.

Gần đây, chúng tôi phát hiện được một số di vật gốc đời Tây Sơn và thu thập được một số tư liệu cho phép xác minh một tướng Tây Sơn được Quang Trung giao cho trọng trách đánh thắng trận Đống Đa là Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông.

Theo gia phả các chi họ Đặng, đặc biệt là bộ Đặng gia phổ hệ toản chính thực lục gồm 6 quyển (Đặng Tiến Đông. Đặng gia phổ hệ toản chính thực lục. Sách chép tay gồm 6 quyển: Quyển 1 gọi là Ngoại ký chép nguồn gốc xa của họ Đặng vốn là họ Trần; Quyển 2 chép về Nghĩa Quốc công Đặng Huấn; Quyển 3 chép về đời Hà Quận công Đặng Tiến Vinh; Quyển 4 chép về đời Doanh Quận công Đặng Thế Tài; Quyển 5 chép về đời Yên Quận công Đặng Tiến Thự; Quyển 6 chép về đời Dận Quận công Đặng Tiến Cẩm) do chính Đặng Tiến Đông biên soạn vào đời Tây Sơn và Ngô Thì Nhậm đề tựa, Đặng Tiến Đông sinh vào giờ Sửu (khoảng từ 1-3 giờ sáng) ngày 2 tháng 5 năm Mậu Ngọ, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ tư (ngày 18/6/1738), tại xã Thịnh Phúc, huyện Phú Xuyên (Hà Nội), thuộc chi trưởng dòng họ Đặng, gốc ở làng Lương Xá (nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, Hà Nội).

Theo gia phả và bài tựa của Ngô Thì Nhậm thì họ Đặng xưa vốn là họ Trần, tương truyền thuộc dòng dõi Trần Hưng Đạo. Đến đầu đời Lê, Trần Văn Huy đỗ Tiến sĩ, lấy tự là Đặng Hiên nên từ đó, con cháu lấy tự của cha làm họ rồi chuyển từ họ Trần sang họ Đặng. Ngoài cách giải thích đó, một số con cháu họ Đặng còn lưu lại truyền thuyết cho rằng, vào đời Mạc, họ này có nhiều người “phù Lê diệt Mạc” nên bị nhà Mạc truy lùng và từ đấy, đổi ra họ Đặng. Điều chắc chắn là từ đời Đặng Huấn có công phù Lê, dòng họ Đặng trở thành một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan to trong suốt thời Lê-Trịnh. Vùng Chương Mỹ còn lưu hành nhiều câu hát về dòng họ Đặng ở Lương Xá như sau:

Giàu thì Quảng Bị, Bối Khê,
Làm quan Lương Xá, ngoại đê Đại Từ.

Hay:

Bao giờ chợ Chúc hết người,
Sông Ninh hết nước, Đặng này hết quan.

Đặng Tiến Đông là con trai thứ tám của Dận Quận công Đặng Tiến Cẩm và bà vợ lẽ thứ năm là Phạm Thị Yến. Vào thời Lê mạt, cả gia đình ông, từ ông cha đến anh em, chú bác đều là những quan lại, tướng soái cao cấp, giữ nhiều chức tước quan trọng trong triều, ngoài trấn. Nhận xét về họ Đặng và con cháu Đặng Huấn, nhà sử học Phan Huy Chú đã viết: “Ngôi kiêm cả tướng văn, tướng võ; một nhà quý hiển ít ai sánh kịp” (Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí. Bản dịch.-H.: Sử học, 1960, T.1.-Tr. 257).

Đặng Tiến Cẩm (1679-1749) là con trai thứ năm Yên Quận công Đặng Tiến Thự. Đặng Tiến Thự đã từng làm Trấn thủ Nghệ An, phong đến chức Thái phó, được Chúa Trịnh ban cho họ tên là Trịnh Liễu và sau khi chết được truy tặng Thái tể. Đặng Tiến Cẩm từng giữ các chức: Quyền Trấn thủ Nghệ An kiêm Trấn thủ châu Bố Chính, Trấn thủ các xứ Hải Dương, An Quảng; Trấn thủ Sơn Tây, Đốc lãnh Hải Dương, Lưu thủ kinh thành, hai lần làm Đề điệu kỳ thi Bác cử (thi võ) và phong đến chức Điện tiền Kiểm điểm ty, Đô Kiểm điểm.

Anh em của Đặng Tiến Cẩm tức chú bác ruột của Đặng Tiến Đông, đều nắm giữ nhiều chức vụ cao cấp của chính quyền họ Trịnh. Gia Quận công Đặng Tiến Lân làm đến chức Đại Tư đồ. Lại Quận công Đặng Đình Sở giữ chức Trấn thủ Sơn Tây. Bộc Quận công Đặng Tiến Luận làm Đốc phủ Sơn Tây, Hải Dương. Đặc biệt, Ứng Quận công Đặng Đình Tướng đã giữ những chức tước cao nhất của phủ chúa như Bồi tụng, Tả Đô đốc Thiếu phó, Thái phó, Đại Tư mã, Đại Tư không, và như Phan Huy Chú đã nhận định: “Trong khoảng 70 năm, là một bậc kỳ cựu trải qua mấy triều, công danh phẩm giá hơn cả các quan, ba con và một cháu của ông đều lấy Quận chúa, một nhà quý thịnh, người bấy giờ gọi, là ông Tiên Quốc lão” (Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí. Bản dịch.-H.: Sử học, 1960, T.1.-Tr. 229).

Đặng Tiến Đông thuộc một dòng họ thế phiệt, xuất thân trong một gia đình quý tộc đời đời ăn lộc vua bổng chúa. Nhưng ông sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh hết sức biến động và đảo lộn của xã hội.

Năm 1747, lên 9 tuổi, Đặng Tiến Đông bắt đầu theo học thầy Doãn Xá tại chùa Thủy Lâm (hay chùa Lương Xá, tại xã Lam Điền, Chương Mỹ, Hà Nội).

Năm 1749, Đặng Tiến Đông 11 tuổi thì mồ côi cha. Mười năm sau, năm 1759, mẹ ông cũng qua đời.

Đặng Tiến Đông bước vào đời đã phải chứng kiến cảnh đổ nát, tàn tạ của chế độ phong kiến, đời sống lầm than cực khổ của nhân dân và những cuộc đấu tranh rung trời chuyển đất của quần chúng. Những cơn bão táp của chiến tranh nông dân Đàng Ngoài đang lay động tận nền tảng cơ đồ thống trị của Vua Lê-Chúa Trịnh xây dựng mấy trăm năm. Cha anh và chú bác của Đặng Tiến Đông từng cầm quân trấn áp những cuộc khởi nghĩa nông dân đó và nhiều phen bị thất bại thảm hại. Trong gia phả họ Đặng do ông viết, ông đã ghi chép một cách khá đầy đủ và trung thực hành động của cha anh, chú bác, kể cả những lần bị quân nông dân đánh cho thất điên bát đảo. Dưới ngòi bút của ông có thể nhận thấy, hình như ông đã bước đầu cảm thấy trong những cuộc “nổi loạn” của quần chúng một sức mạnh quật khởi khó lòng chế ngự. Nhiều thủ lĩnh nông dân khởi nghĩa, ông vẫn gọi là “nghịch”, là “giặc”, nhưng qua một số hành động do ông ghi lại, thì không phải là kẻ hung ác, tàn bạo, mà là người có tình, có nghĩa. Trong gia phả ông có kể lại hai trường hợp Quận He Nguyễn Hữu Cầu tha chết cho cha ông là Dận Quận công Đặng Tiến Cẩm và anh cả của ông là Trí Trung hầu Đặng Đình Trí.

Thực tế lịch sử đau thương và quật cường những năm giữa thế kỷ XVIII ở Đàng Ngoài đã dần dần tác động đến cách nhìn, tư tưởng và tình cảm của Đặng Tiến Đông. Nhưng phải đến phong trào nông dân Tây Sơn cùng với những chấn động mãnh liệt của nó đối với toàn bộ cơ cấu xã hội, mới mở ra cho Đặng Tiến Đông cũng như một số sĩ phu tiến bộ ở Bắc Hà, một chân trời mới.

Giữa năm 1786, nghĩa quân Tây Sơn dưới quyền lãnh đạo của Nguyễn Huệ, ào ạt vượt sông Gianh, tiến ra Bắc Hà. Trong chốc lát, nền thống trị của họ Trịnh bị lật nhào. Trật tự chính trị ở Bắc Hà trải qua một cơn đảo lộn. Trước sự ruỗng nát và sụp đổ của chế độ họ Trịnh, phong trào Tây Sơn là tiêu biểu của sức mạnh phi thường, một sức sống đang vươn lên. Hơn một tháng sau, đoàn quân “áo vải cờ đào” và người anh hùng của họ rút về Nam, trao trả quyền hành lại cho nhà Lê. Nhưng rồi triều đình vua Lê mà bấy lâu nhân dân và sĩ phu Bắc Hà vẫn kỳ vọng, lại có dịp bộc lộ tính chất nhu nhược, bất lực hoàn toàn của nó.

Chiếc ngai vàng ọp ẹp của nhà Lê vốn đã rệu rạo, nay càng ngả nghiêng trước tình trạng cực kỳ hỗn loạn của Bắc Hà. Quân Tây Sơn vừa rút, Lê Chiêu Thống đã cảm thấy “một nước trống rỗng” và vội “viết thư triệu hết những người thế gia và bầy tôi cũ dấy quân về bảo vệ hoàng thành”. Nhân đấy, “bọn hào mục các nơi chiếm giữ châu quận, chiêu tập binh mã, đều mượn danh nghĩa “bảo vệ”. Những hạng vô lại đánh giết lẫn nhau, trong nước thành ra rối loạn” (Quốc Sử Quán triều Nguyễn. Việt sử thông giám cương mục. Bản dịch.-H.: Sử học, 1960.-T.XX.-Tr.23). Bọn con cháu Chúa Trịnh như Trịnh Lệ, Trịnh Bồng, bọn tướng tá cũ như Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ, Dương Trọng Tế… đều nổi dậy tranh giành, đánh giết nhau và ức hiếp nhân dân thậm tệ. Vua Lê lại bị đặt vào địa vị bù nhìn. Dưới sự hoành hành của bọn tướng quân phiệt, “ngay giữa ban ngày, thủ hạ ra sức cướp bóc dân cư gần kinh thành, không có hiệu lệnh ngăn cấm. Mọi người đều cho là không còn hy vọng gì cả” (Quốc Sử Quán triều Nguyễn. Việt sử thông giám cương mục. Bản dịch.-H.: Sử học, 1960.-T.XX.-Tr.25).

Nhân cơ hội đó, cuối năm 1786, Nguyễn Hữu Chỉnh lấy danh nghĩa tôn phò vua Lê, chiêu tập binh mã ở Nghệ An rồi kéo ra Thăng Long. Đến lượt Nguyễn Hữu Chỉnh lại thâu tóm mọi quyền hành ở Bắc Hà, “quyền Chỉnh thật ngang với nhà vua, thế của Chỉnh có thể lật nghiêng cả nước” (Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí.-H.: Văn học Hà Nội, 1964.-Tr.195). Từ một phần tử phong kiến thất thế ở Bắc Hà, Nguyễn Hữu Chỉnh phải theo Tây Sơn để gây dựng lực lượng, nay lại phản bội Tây Sơn, âm mưu làm bá chủ Thăng Long. Dưới sự chuyên chế của Chỉnh, tình hình Bắc Hà càng rối loạn: “Lòng người lìa tan, quan văn, quan võ ai cũng chán nản… Bọn hào mục gian ác ở đâu thì tụ họp ở đấy rồi đi cướp bóc lẫn nhau. Ngoài thành vài dặm đều là hang ổ của bọn trộm cướp” (Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí.-H.: Văn học Hà Nội, 1964.-Tr.219).

Trong vòng hơn nửa năm kể từ khi quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long (tháng 7/1786), tình hình Bắc Hà đã trải qua những biến động dồn dập. Những biến động đó càng chứng tỏ sự bất lực, sụp đổ không gì cứu vãn nổi của các thế lực phong kiến cũ và càng làm cho nhân dân Bắc Hà hướng về Tây Sơn. Diễn biến lịch sử đó cũng đã ảnh hưởng quyết định đến chí hướng và hành động của một số sĩ phu tiến bộ, thức thời ở Bắc Hà, trong đó có Đặng Tiến Đông. Ông đã sớm tìm thấy ở phong trào Tây Sơn và sự nghiệp của người anh hùng Nguyễn Huệ, một niềm tin và một phương hướng mới của cuộc đời.

Khoảng nửa đầu năm 1787, Đặng Tiến Đông lặn lội vào tận Quảng Nam, tìm đến quân doanh yết kiến Nguyễn Huệ khi Nguyễn Huệ đang đóng quân ở đây. Có hai văn bản và di vật gốc đời Tây Sơn xác nhận sự kiện này. Đó là bài văn bia đề là Tông Đức thế tự bi do Phan Huy Ích soạn, Ngô Thì Nhậm nhuận sắc và đạo sắc do Nguyễn Huệ phong chức tước cho Đặng Tiến Đông.

Bài văn bia được khắc vào một tấm bia đá dựng trước Chùa Thủy Lâm, thôn Lương Xá (nay thuộc xã Lam Điền, Chương Mỹ, Hà Nội). Bia cao 1,72 m, bề ngang 0,85 m, dày 0,34 m. Nội dung bài văn bia, ngoài phần nói về thế phả họ Đặng, có một đoạn ngắn, nhưng rất quan trọng, tóm lược công lao, sự nghiệp của Đặng Tiến Đông kể từ khi theo Tây Sơn cho đến khi lập chiến công trong cuộc kháng chiến chống Thanh. Bài văn bia khắc vào ngày 15 tháng 6 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ năm (tức ngày 9/7/1797). Cuối bia ghi rõ ngày tháng và niên hiệu:

“Hoàng triều đệ nhị đế…(hai chữ Cảnh Thịnh bị đục), vạn vạn niên chi ngũ tuế, tại Đinh Tỵ lục nguyệt thập ngũ nhật”.

Cùng chức tước, họ tên người soạn và nhuận sắc bài văn bia là:

“Đương triều dực vận công thần, sắc thụ Đặc Tiến Vinh Lộc Thượng Đại phu, Thị trung Ngự sử, Khâm sai Khánh Hạ sứ, Thụy Nham hầu Phan Huy Ích, Chi Dụ phủ, kính soạn”.

“Đương triều dực vận công thần, sắc thụ Đặc Tiến Vinh Lộc Thượng Đại phu, Thị trung Đại Học sĩ, kiêm Binh bộ Thượng thư, quản lĩnh Bí thư thự, Tình Phái hầu Ngô Thì Nhậm, Hy Doãn phủ, kính nhuận”.

Phan Huy Ích quê ở Sài Sơn, huyện Quốc Oai (Hà Nội). Ngô Thì Nhậm quê ở làng Tả Thanh Oai (Hà Nội). Hai người đỗ Tiến sĩ, đã từng làm quan cho họ Trịnh và tháng 5 năm 1788, khi Nguyễn Huệ tiến ra Thăng Long lần thứ hai, đều theo Tây Sơn. Đối với Đặng Tiến Đông, Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm là những người bạn thân thiết cùng quê, cùng triều và cùng chí hướng.

Về việc Đặng Tiến Đông tìm vào Quảng Nam theo Nguyễn Huệ, bài văn bia ghi rõ: “Thái Tổ Vũ Hoàng Đế của hoàng triều, nghĩa thanh vang dội, đóng quân ở Quảng Nam, ông (tức Đặng Tiến Đông – Phan Huy Lê) đến cửa quân xin yết kiến, được đón tiếp và đãi ngộ riêng, rồi được tin yêu ban cho ấn kiếm, giao cho thống lĩnh việc quân…”

Đạo sắc phong chức tước cho Đặng Tiến Đông đề ngày 3 tháng 7 năm Thái Đức thứ mười (tức ngày 15/8/1787). Văn bản viết trên giấy sắc, khổ 138 × 50 cm, hiện do chi trưởng của dòng họ Đặng ở Lương Xá giữ và đặt thờ trên bàn thờ của chi họ này. Đây là nguyên bản sắc phong chức tước đời Tây Sơn còn giữ được đến nay. Trên tờ sắc có dấu son hình vuông, khổ 7,8 × 7,8 cm đóng trên dòng chữ đề niên hiệu Thái Đức thập niên và hai dấu kiềm hình bầu dục thắt eo ở giữa, khổ 8,4 × 2,5 cm đóng trên dòng chữ ghi họ tên và chức tước của Đặng Tiến Đông.

Thái Đức là niên hiệu của Hoàng Đế Nguyễn Nhạc, nhưng tờ sắc phong này không phải do Nguyễn Nhạc mà do Nguyễn Huệ phong chức tước cho Đặng Tiến Đông. Lúc đó, Nguyễn Huệ còn là Bắc Bình Vương, chưa lên ngôi Hoàng Đế, đặt niên hiệu riêng nên tờ sắc phong còn dùng niên hiệu Thái Đức của Nguyễn Nhạc.

Tờ sắc có đoạn biểu dương Đặng Tiến Đông là người có “khí khái của trượng phu, tấm lòng của nam tử, đường làm quan gặp gỡ, dựng nên công lớn vua tôi, trước sau báo đền, không quên điều hiểu biết của kẻ sĩ trong nước, trải qua mùa đông mà không chịu khuất như cây tùng lúc giá rét”. Đặng Tiến Đông được Nguyễn Huệ đón tiếp niềm nở, tin cẩn và lập tức được ban ấn kiếm, phong chức tước. Theo tờ sắc, Nguyễn Huệ phong cho Đặng Tiến Đông làm Đô đốc Đồng tri, tước Đông Lĩnh hầu và sai giữ chức Trấn thủ xứ Thanh Hoa. Từ đó, Đặng Tiến Đông trở thành một tướng soái cao cấp của quân đội Tây Sơn dưới quyền thống lĩnh của Nguyễn Huệ.

Hiện nay, gia phả họ Đặng và những tư liệu có liên quan chưa cho biết rõ, trước khi theo Nguyễn Huệ, Đặng Tiến Đông đã đỗ đạt như thế nào, đã giữ những chức tước gì trong chính quyền họ Trịnh, rồi rời Bắc Hà vào Quảng Nam vào lúc nào? Điều chắc chắn là Đặng Tiến Đông đã tìm đến yết kiến Nguyễn Huệ trước ngày 15/8/1787. Và chính cuộc tri ngộ đó đã đánh dấu một bước ngoặt căn bản trong cuộc đời và sự nghiệp của Đặng Tiến Đông. Như vậy, trong số quan lại, sĩ phu tiến bộ ở Bắc Hà đi theo Tây Sơn, phải kể Đặng Tiến Đông là người đầu tiên. So với Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích… theo Tây Sơn vào giữa năm 1788, hành động của Đặng Tiến Đông sớm hơn gần một năm. Hơn nữa, Đặng Tiến Đông lại tự mình tìm vào Quảng Nam xin yết kiến Nguyễn Huệ, thể hiện một thái độ thức thời, kiên quyết và mạnh dạn.

Theo tờ sắc phong chức tước thì từ ngày 15/8/1787, Đặng Tiến Đông đã được phong làm Đô đốc Đồng tri, tước Đông Lĩnh hầu, giữ chức Trấn thủ xứ Thanh Hoa. Nhưng thực ra, lúc đó quân Tây Sơn chỉ kiểm soát trấn Nghệ An trở vào, còn trấn Thanh Hoa vẫn thuộc phạm vi cai quản của nhà Lê. Cuối năm 1787, khi Vũ Văn Nhậm theo lệnh Nguyễn Huệ chỉ huy quân Tây Sơn tiến ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh thì tướng Trấn thủ Thanh Hoa là Nguyễn Duật (Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, q.30 chép là Lê Duật. Hoàng Lê nhất thống chí có chỗ chép là Nguyễn Duật (Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí. Bản dịch.-H.: Văn học Hà Nội, 1964.-Tr.246), có chỗ chép là Lê Duật (Tr.225, 265). Việt sử thông giám cương mục chép thống nhất là Nguyễn Duật và chú thích rõ là người Nộn Liễu, huyện Nam Đường (Quốc Sử Quán triều Nguyễn. Việt sử thông giám cương mục. Bản dịch.-H.: Sử học, 1960.-T.XX.-Tr.38), Duật là bộ tướng thân cận của Nguyễn Hữu Chỉnh, được Chỉnh cử vào làm Trấn thủ Thanh Hoa trước đó mấy tháng. Trước thế mạnh của quân Tây Sơn, Nguyễn Duật không dám chống cự, rút quân về giữ Trinh Giang (Hoằng Hóa, Thanh Hóa). Vũ Văn Nhậm sai Ngô Văn Sở đem quân đánh úp mặt sau, giết chết Nguyễn Duật. Từ dó, xứ Thanh Hoa mới thuộc quyền kiểm soát của quân Tây Sơn. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, quyển 30 và đặc biệt là bài ký khắc trên gỗ ở đền Đồng Cổ (làng Đan Nê, Yên Định, Thanh Hóa) do Tuyên công Nguyễn Quang Bàn làm và khắc vào đầu mùa hè năm Bảo Hưng thứ hai (năm 1802) thì từ mùa xuân năm 1790-1802, Nguyễn Quang Bàn giữ chức Đốc trấn trấn Thanh Hoa (Trần Văn Giáp, Nguyễn Duy Hinh. Một bài văn bia đời Tây Sơn khắc trên biển gỗ ở miếu thờ thần núi Đồng Cổ (Thanh Hóa) nói về trống đồng // Tạp chí Khảo cổ học.-Số 5-6, tháng 6-1970.-Tr. 168-175). Vậy Đặng Tiến Đông chỉ có thể làm Trấn thủ xứ Thanh Hoa trong khoảng thời gian từ cuối năm 1787 đến đầu năm 1790.

Nhưng tại sao trong sắc phong chức tước đề ngày 3 tháng 7 năm Thái Đức thứ mười (ngày 15/8/1787), Nguyễn Huệ đã cử Đặng Tiến Đông làm Trấn thủ xứ Thanh Hoa? Nguyên văn lời trong đạo sắc là: “Khả gia Đô đốc Đồng tri chức, Đông Lĩnh hầu, nhưng sai Thanh Hoa xứ Trấn Thủ”, nghĩa là: “Nên gia phong chức Đô đốc Đồng tri, (tước) Đông Lĩnh hầu, vẫn sai làm Trấn Thủ xứ Thanh Hoa”. Theo lời văn của đạo sắc, thì có thể trước đây Đặng Tiến Đông đã từng làm Trấn thủ Thanh Hoa và nay Nguyễn Huệ lại giao cho ông chức vụ đó. Nhưng phải đến cuối năm đó, khi trấn Thanh Hoa thuộc về quân Tây Sơn thì Đặng Tiến Đông mới có thể thực hiện chức vụ Trấn thủ của mình.

Cuối năm 1788, quân Tây Sơn ở Bắc Hà phải tạm rút lui về giữ phòng tuyến Tam Điệp-Biện Sơn. Trong cuộc kháng chiến chống Thanh, xứ Thanh Hoa (Từ thời Lê Trung hưng, xứ hay trấn Thanh Hoa gồm Thanh Hoa Nội là tỉnh Thanh Hóa ngày nay và Thanh Hoa ngoại là tỉnh Ninh Bình ngày nay. Thời Tây Sơn, Thanh Hoa Ngoại thống thuộc vào Bắc Thành) giữ vai trò một địa bàn chiến lược quan trọng. Đó là vùng đất nằm ngay sau phòng tuyến của Tây Sơn, tiếp giáp với vùng kiểm soát của quân địch (từ phía bắc phủ Trường Yên trở ra). Đó cũng là vùng cực Bắc hậu phương an toàn của quân Tây Sơn và là nơi tập kết các đạo quân chủ lực của Tây Sơn trước khi xuất phát bước vào cuộc phản công chiến lược đập tan cuộc xâm lược của quân Thanh. Với cương vị là Trấn thủ xứ Thanh Hoa, hẳn Đô đốc Đặng Tiến Đông có góp phần cùng với Ngô Văn Sở xây dựng, bảo vệ phòng tuyến Tam Điệp-Biện Sơn vốn thuộc địa phận và hải phận xứ Thanh Hoa, và nhất là chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để đất Thanh Hoa có thể trở thành khu vực tập kết và bàn đạp phản công của đại quân Tây Sơn do Quang Trung Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy. Tiếc rằng chính sử cũng như gia phả họ Đặng và các tư liệu thu tập được không ghi chép gì về những hoạt động của Trấn thủ Đặng Tiến Đông trong khoảng cuối năm 1788.

Đầu năm 1789, khi từ Tam Điệp-Biện Sơn mở cuộc tập kích chiến lược giải phóng kinh thành Thăng Long, Quang Trung giao cho Đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy một đạo quân tiên phong tiến ra bất ngờ tập kích tiêu diệt đồn Đống Đa, (Hà Nội). Bài văn bia của Phan Huy Ích tóm tắt vũ công của Đô đốc Đông như sau: “Năm Mậu Thân (năm 1788 – Phan Huy Lê), đầu đời Quang Trung (hai chữ Quang Trung bị đục – Phan Huy Lê), quân Bắc xâm chiếm nước Nam, ông (tức Đặng Tiến Đông – Phan Huy Lê) phụng chiếu cầm đạo quân tiên phong, tiến đánh làm cho quân Bắc tan vỡ, ông một mình một ngựa tiến lên trước, dẹp yên nơi cung cấm”. Con cháu nhiều chi họ Đặng ở Chương Mỹ (Hà Nội) còn ghi nhớ và truyền tụng công lao của “Quan Đô” tức Đô đốc Đông, theo cách gọi phổ biến của các cụ già họ Đặng, là đã vâng mệnh vua Quang Trung đánh thắng trận Đống Đa, tiêu diệt hàng vạn quân Thanh.

Như vậy là mờ sáng ngày mồng 5 tháng giêng Tết Kỷ Dậu (ngày 31/1/1789), khi Quang Trung chỉ huy đạo quân chủ lực tiến đánh đồn Ngọc Hồi ở phía Nam Thăng Long, thì Đô đốc Đông, theo kế hoạch của Quang Trung, chỉ huy một đạo quân Tây Sơn khác tiến đánh đồn Đống Đa.

Từ Tam Điệp, đạo quân của Đô đốc Đông đi theo con đường “thượng đạo” qua Phố Cát, ra Thiên Quan (Nho Quan, Ninh Bình) rồi xuyên qua Chương Đức (Chương Mỹ, Hà Nội) là quê hương của Đặng Tiến Đông, tiến lên Đống Đa. Đó là một con đường giao thông đã có từ lâu đời nhưng đến thế kỷ thứ XVIII, như Lê Quý Đôn nhận xét: “Đường núi đã bế tắc không đi được nữa” (Lê Quý Đôn. Kiến văn tiểu lục. Bản dịch.-H.: Sử học, 1962.-Tr.341). Hành quân theo con đường núi đã bế tắc như vậy, quân Tây Sơn phải mở lấy đường đi, khắc phục nhiều trở ngại của núi rừng. Điều đó đòi hỏi tướng chỉ huy không những phải có năng lực tổ chức mà còn phải am hiểu cặn kẽ địa hình trong vùng. Đặng Tiến Đông sinh trưởng ở vùng Chương Mỹ nằm trên con đường giao thông ấy hẳn đáp ứng được những yêu cầu trên.

Khoảng canh tư ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu, vào lúc trời còn tối, quân Tây Sơn áp sát đồn Đống Đa rồi bất ngờ tiến công vào doanh trại giặc. Một sự kiện đặc biệt cần chú ý là vừa lúc đó nhân dân 9 xã xung quanh đem những con cúi bện bằng rơm rạ, tẩm dầu, đốt lửa bao vây đồn giặc, tạo thành một hàng rào lửa dày đặc, đó là “trận rồng lửa” (hỏa long trận) mà nhà thơ Ngô Ngọc Du còn ghi lại trong bài thơ Long thành quang phục kỷ thực. “Trận rồng lửa” đã phát huy tác dụng to lớn của nó, góp phần bao vây, uy hiếp quân địch, tạo điều kiện cho quân Tây Sơn nhanh chóng tiêu diệt đồn giặc. Hành động đó chứng tỏ lòng yêu nước, tinh thần mưu trí và sự tham gia tự nguyện của nhân dân, nhưng mặt khác cũng đòi hỏi sự vận động và tổ chức trước của quân Tây Sơn. Theo lời kể của con cháu họ Đặng thì “Quan Đô” đã “bày ra mưu kế diệt đồn Đống Đa”. Phải chăng, “trận rồng lửa” nằm trong mưu kế của Đô Đốc Đông? Vốn là người quê ở Chương Mỹ, có nhiều bạn bè, bà con thân thuộc và có ảnh hưởng rộng lớn trong vùng, Đặng Tiến Đông có nhiều điều kiện thuận lợi để vận động và chuẩn bị một kế hoạch phối hợp với nhân dân địa phương như vậy.

Trận Đống Đa là một trận đánh tiêu diệt chớp nhoáng. Trận đánh bắt đầu lúc canh tư và kết thúc lúc trời chưa sáng. Sau khi tiêu diệt đồn Đống Đa, Đô đốc Đông đưa đạo quân tiên phong vượt qua cửa Ô Thịnh Quang, tràn vào thành Thăng Long. Rồi như một mũi dao nhọn, Đô đốc Đông dẫn đầu đoàn quân lao thẳng về phía cung Tây Long, tạo nên mối uy hiếp hết sức bất ngờ đối với đại bản doanh của chủ soái quân Thanh. Phan Huy Ích còn ghi lại trong bài văn bia, mũi tiến công thọc sâu lợi hại đó qua hình ảnh: “Ông một mình một ngựa tiến lên trước, dẹp yên nơi cung cấm”.

Mũi tiến công như vũ bão của đạo quân chủ lực do Quang Trung đích thân chỉ huy ở mặt nam Thăng Long cùng với mũi vu hồi thọc sâu bất ngờ sắc bén của Đô Đốc Đông ở mặt Tây Nam, đã giáng những đòn quyết định, nghiền nát cuộc xâm lược của quân Thanh, buộc Tôn Sĩ Nghị và bọn tàn quân phải tháo chạy thảm hại.

TIỂU DẪN

Ngọc Hồi – Đống Đa là một trong những trận quyết chiến chiến lược lừng lẫy vào hàng bậc nhất của lịch sử dân tộc. Người trực tiếp vạch kế hoạch, cũng là vị Tổng chỉ huy thiên tài của trận đánh lịch sử này là Quang Trung Nguyễn Huệ. Tuy nhiên, bên cạnh Quang Trung Nguyễn Huệ và sát cánh chỉ huy chiến đấu đầy hiệu quả với Quang Trung Nguyễn Huệ còn có một loạt các tướng lĩnh xuất sắc khác, trong đó có vị Đô đốc được nhiều tài liệu thư tịch cổ chép là Đô đốc Long, thi thoảng cũng có tài liệu chép là Đô đốc Mưu.

TrongTrong Tây Sơn lương tướng ngoại truyện, Nguyễn Trọng Trì (1854-1922) có chép chuyện Đô đốc Long và cho biết đầy đủ cả họ lẫn tên của vị Đô đốc này là Đặng Văn Long (người huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn, nay thuộc huyện Tây sơn, tỉnh Bình Định). Tuy nhiên, phân tích kỹ tài liệu này thì thấy Đô đốc Đặng Văn Long là một tướng trong đạo quân chủ lực do Quang Trung Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy chứ không phải là vị Đô đốc chỉ huy 1 trong 5 đạo quân tham gia trận Ngọc Hồi-Đống Đa. Đặng Văn Long có vẻ như là một tướng tiên phong của Quang Trung Nguyễn Huệ chứ không phải là Đô đốc chỉ huy một đạo quân riêng. Cũng trong Tây Sơn lương tướng ngoại truyện, Đô đốc Đặng Văn Long chừng như chỉ tham gia chiến đấu ở trận Hạ Hồi và Ngọc Hồi chứ không hề đánh trận Đống Đa.

Vậy người chỉ huy 1 trong 5 đạo quân của Tây Sơn từ Tam Điệp, tiến thẳng ra Đại Áng rồi tấn công vào Đống Đa là ai? Xưa nay, nhiều người vẫn theo sử cũ mà chép lại là Đô đốc Long và không dám chú thích gì thêm, đành tạm cho vào hàng “khuyết truyện”.

Gần đây, khi bắt tay soạn thảo bộ DANH TƯỚNG VIỆT NAM, chúng tôi cũng có may mắn nhận thêm được một số tài liệu về Đô đốc Long. Nhưng phân tích các tài liệu mới nhận được, một lần nữa, chúng tôi lại thấy chừng như có một vị Đô đốc là Đặng Văn Long trong quân đội Tây Sơn, chỉ tiếc rằng, Đô đốc Đặng Văn Long trong tất cả các tài liệu mới nhận được không phải là vị Đô đốc chỉ huy 1 trong 5 đạo quân tham gia trận Ngọc Hồi – Đống Đa. Trong điều kiện khó khăn hiện tại, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu nguyên văn bài viết của GS Phan Huy Lê trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 154 (1-1974). Kể ra bài báo được viết cũng đã khá lâu, nhưng giá trị khoa học thì càng ngày càng được khẳng định. Hiện nay, ở thủ đô Hà Nội, có một đường phố mang tên Đặng Tiến Đông chạy từ phố Tây Sơn (mé Tây gò Đống Đa) đến phố Láng Hạ, thuộc quận Đống Đa. Sau, năm mất của Đặng Tiến Đông được xác định là 1801, tuy nhiên, chúng tôi vẫn theo bài viết của GS Phan Huy Lê mà để khuyết năm mất. Dưới đây là nguyên văn bài viết của GS Phan Huy Lê trên tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 154 (1-1974).

Sáng ngày mồng 5 Tết, đạo quân của Đô đốc Đông tiến vào thành Thăng Long trước tiên. Trưa ngày hôm đó, Quang Trung cùng với đại quân tiến vào kinh thành giữa sự đón chào của Đô đốc Đông và sự hoan nghênh của nhân dân các phố phường Thăng Long. Bài văn bia của Phan Huy Ích còn ghi rõ công trạng của Đô đốc Đông và sự ban thưởng của Quang Trung đối với ông: “Vũ Hoàng Đế vào Thăng Long, tiến hành khen thưởng, ban riêng cho ông xã quê hương là Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn, phàm các khoản binh phân, hộ phân, sưu sai đều cho miễn trừ”.

Không nghi ngờ gì nữa, Đô đốc Đặng Tiến Đông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Thanh và là một vị tướng chỉ huy quân Tây Sơn đánh thắng trận Đống Đa lịch sử. Ở đây có vấn đề đặt ra là Đô đốc Đông có phải là Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu được ghi chép trong sử cũ hay không? Hiện nay, chưa tìm thấy tài liệu nào nói rõ Đô đốc Đông là Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu. Nhưng phân tích và đối chiếu các tư liệu các sự kiện có liên quan thì theo tôi: có nhiều khả năng Đặng Tiến Đông là tên thật của Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu. Nhận định đó dựa trên những cơ sở sau đây:

So sánh các tài liệu thì những sự việc mà sử sách trước đây chép là của Đô đốc Long (hay Mưu), theo những tư liệu mới phát hiện và thu tập được lại là của Đô đốc Đông. Ví dụ, tướng Tây Sơn được Quang Trung giao cho chỉ huy đạo quân diệt đồn Đống Đa (hay trại Khương Thượng), theo Hoàng Lê nhất thống chí là Đô đốc Long, theo Đại Nam chính biên liệt truyện là Đô đốc Mưu, theo những tư liệu mới trình bày ở trên lại là Đô đốc Đông. Đội quân Tây Sơn đầu tiên tiến vào thành Thăng Long, theo Hoàng Lê nhất thống chí và Minh đô sử là đội quân của Đô đốc Long, theo bài văn bia do Phan Huy Ích soạn lại là Đô đốc Đông. Hoàng Lê nhất thống chí chép: “Sáng hôm ấy, Long đã đánh tên Thái thú Điền Châu ở trại Khương Thượng thuộc huyện Quảng Đức. Quân Thanh tan vỡ bỏ chạy, Long liền tiến trước vào thành” (Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí. Bản dịch.-H.: Văn học Hà Nội, 1964.-Tr.364). Ngay cả hình ảnh Đô đốc cưỡi ngựa chỉ huy quân sĩ đánh giặc mà Phan Huy Ích ghi lại trong văn bia cũng phù hợp với một đoạn văn của Minh đô sử mô tả Đô đốc Long phi ngựa ra đón tiếp Quang Trung. Những điều trùng hợp đó chứng tỏ Đô đốc Long, Đô đốc Mưu, Đô đốc Đông chỉ là một người. Đó là những tên ghi chép khác nhau về vị Đô đốc đã chỉ huy quân Tây Sơn đánh thắng trận Đống Đa và tiến vào thành Thăng Long đầu tiên.
Toàn bộ quân đội Tây Sơn huy động vào cuộc phản công chiến lược có trên 10 vạn, chia làm 5 doanh (hay 5 quân): Tiền, Trung, Hậu, Tả, Hữu. Như vậy, mỗi doanh ước chừng trên dưới 2 vạn quân. Đạo quân chủ lực do Quang Trung trực tiếp thống lĩnh tập trung đến 3 doanh: Tiền quân do Nội hầu Phan Văn Lân chỉ huy, Trung quân do Đại Tư mã Ngô Văn Sở chỉ huy và Hậu quân do Hám Hổ hầu chỉ huy. Tả quân do Đại Đô đốc Lộc và Đô đốc Tuyết chỉ huy đảm nhiệm mũi tấn công vào Hải Dương và mũi bao vây vu hồi chặn đường rút lui của tàn quân địch. Hữu quân, theo Hoàng Lê nhất thống chí, do Đại Đô đốc Bảo và Đô đốc Long chỉ huy, chia làm 2 đạo: một đạo tiến ra Đại Áng phối hợp với đạo quân chủ lực tiêu diệt đồn Ngọc Hồi, một đạo tiến ra Nhân Mục tiêu diệt đồn Đống Đa. Đạo quân đánh đồn Đống Đa là một bộ phận của Hữu quân. Mũi tiến công đó rất quan trọng, nhưng về binh lực thì không nhiều lắm. Đứng về tổ chức và phiên chế, chỉ huy một đạo quân như vậy là một Đô đốc, không có lý do gì phải giao cho 2 hay 3 Đô đốc (Thời Quang Trung, Đô đốc là một chức võ quan cao cấp và trong cuộc kháng chiến chống Thanh được giao quyền chỉ huy các đạo quân phụ trách các hướng tiến công phối hợp. Sang thời Quang Toản, chính quyền Tây Sơn suy yếu dần, tệ mua bán chức tước phát triển và từ đó mới có nạn “Đô đốc tam thiên Đô đốc, chỉ huy bát vạn chỉ huy). Ngoài đạo quân chủ lực, 3 đạo quân kia, mỗi đạo cũng chỉ do một Đô đốc chỉ huy (Đô đốc Bảo, Đô đốc Lộc, Đô đốc Tuyết). Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu hay Đô đốc Đông chỉ là một người.
Hơn nữa, qua đạo sắc phong chức tước và bài văn bia của Phan Huy Ích, thấy rõ Quang Trung rất tin cẩn và ưu đãi Đặng Tiến Đông. Không lẽ Quang Trung lại đặt Đô đốc Đông dưới quyền Đô đốc Long (hay Mưu) nếu đó là hai người. Chính sách dùng người của Quang Trung nói chung và thái độ đối xử đối với những sĩ phu tiến bộ theo Tây Sơn nói riêng, càng chứng tỏ Đô đốc Long chính là Đô đốc Đông.

Nhưng là một người, tại sao có tài liệu chép là Đô đốc Long, có tài liệu chép là Đô đốc Mưu, có tài liệu chép là Đô đốc Đặng Tiến Đông? Cũng chưa có tư liệu nào cho phép giải thích rõ vấn đề này. Điều đáng lưu ý là những sách chép là Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu, không có một tài liệu nào ghi chú rõ nguồn gốc của nhân vật, ngay cả họ hàng, quê quán cũng không biết. Còn gia phả họ Đặng, đạo sắc phong chức tước đời Tây Sơn, văn bia của Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm là những tư liệu có giá trị, ghi chép đầy đủ họ tên, quê quán và phản ánh những nét lớn thân thế, sự nghiệp của Đặng Tiến Đông. Có thể do ghi chép sai lạc, phát âm chệch:
Đặng Tiến Đông vốn tên là Đông, chữ Hán viết tất là sau đổi viết là . Chữ Đông và chữ Long (viết tắt), tự dạng gần giống nhau, rất dễ nhầm.
Về phương diện ngữ âm, những từ có phụ âm đầu là Đ, L rất dễ chuyển hóa lẫn nhau), cũng có thể do một lý do nào đó, Đặng Tiến Đông giấu tên thật của mình và vì vậy, Đô đốc Đông trở thành Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu.

Sau khi đánh tan giặc ngoại xâm, Đặng Tiến Đông vẫn giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Tây Sơn, tiếp tục đóng góp công sức vào công cuộc xây dựng đất nước. Dưới triều Quang Trung (1788-1792), ông giữ chức Vệ quốc Thượng tướng quân, Trấn thủ hai xứ Thanh Hoa và Nghĩa An (thời Tây Sơn gọi trấn Nghệ An là Nghĩa An hay Trung Đô). Có lẽ ông giữ chức vụ đó cho đến năm 1790 là khi Quang Trung cử con là Nguyễn Quang Bàn làm Đốc trấn Thanh Hoa và tướng Trần Quang Diệu làm Đốc trấn Nghĩa An. Theo bài văn bia của Chùa Thủy Lâm do Phan Huy Ích soạn khắc vào năm Cảnh Thịnh thứ năm (1797) và bài minh do Trần Bá Lãm soạn khắc vào chuông Chùa Trăm Gian (thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội) vào năm Cảnh Thịnh thứ hai (1794), thì trong thời Quang Toản (1792-1802), ông giữ chức Đại tướng Thống Vũ Thắng Vệ Thiên Hùng Hiệu.

Ngoài việc nước, trong thời gian làm quan trong triều Tây Sơn, Đặng Tiến Đông còn chăm lo tu bổ một số đền chùa ở quê hương. Trải qua nhiều năm biến loạn cuối thời Lê, dân làng Lương Xá có một bộ phận lưu tán đi các nơi. Ông đã chiêu tập dân làng trở về quê hương, khai khẩn đất đai, mở mang thôn xóm. Ông cúng cho làng 600 quan tiền và 17 mẫu ruộng tốt để tu bổ Chùa Thủy Lâm, đền thờ họ Đặng và làm chi phí thờ cúng hàng năm. Ông còn sửa sang lại Chùa Trăm Gian, đúc chuông cho nhà chùa (năm 1794) và cúng 80 quan tiền, 8 mẫu ruộng làm hậu Phật (Đây là một tập tục xưa, nhân dân các địa phương thường tôn những người giàu công đức làm Thần hay Phật và cũng tổ chức tế lễ như đối với Thần, Phật vậy).

Tượng Đô đốc Đặng Tiến Đông – Chùa Trăm gian, Hà Nội
Chùa Trăm Gian còn giữ được một bức tượng Đặng Tiến Đông mà nhân dân địa phương thường gọi là “tượng quan Đô”. Bài văn bia Đặng tướng công bi dựng trong chùa và gia phả một số chi họ Đặng cho biết bức tượng tạc vào năm Cảnh Thịnh thứ hai (năm 1794), lúc Đặng Tiến Đông 56 tuổi. Các tài liệu trên chép là “tượng truyền thần”, tạc vào lúc “sinh thời” của ông. Các cụ già làng Tiên Lữ tương truyền rằng, tượng giống người đến mức độ khi rước tượng về chùa, tượng đặt trong kiệu đi trước, “quan Đô” ngồi trong kiệu đi sau, người xem không sao phân biệt được người và tượng! Ngày nay, khó mà xác định bức tượng có giống người đến mức độ như thế hay không. Nhưng nghiên cứu bức tượng thì thấy rõ ràng đấy không phải là một bức tượng mang tính chất tượng trưng, ước lệ thường gặp trong các chùa, đền. Bức tượng nhằm diễn tả một con người cụ thể có dáng vóc, phong thái và cá tính riêng.

Tượng bằng gỗ mít, cao 1,30 m không kể bệ, tạc một võ tướng mặc võ phục đơn giản, trong tư thế ngồi, hai tay vòng về phía trước. Tượng thể hiện một người có tuổi, dáng cao lớn, vai rộng, khuôn mặt to, mồm hơi dô, môi dày, râu quai nón… Nét mặt trang nghiêm nhưng có vẻ hiền lành, chất phác.

Bức tượng đã bị mọt đục ruỗng đôi chỗ và đã được sơn lại. Gia phả chi họ Đặng ở thôn Long Châu, xã Phụng Châu (Chương Mỹ, Hà Nội), đề là Đặng gia phả ký cho biết năm Thành Thái thứ 15 (năm 1903), 5 chi họ Đặng đã góp tiền trùng tu bức tượng của tiên tổ ở Chùa Trăm Gian. Đó là một lần trùng tu có thể xác định được. Do những lần trùng tu như vậy nên nước sơn và những trang trí trên áo quần, mũ đai không còn giữ được phong cách đời Tây Sơn. Nhưng tính chất và giá trị chân dung của bức tượng vẫn có thể nhìn nhận và đánh giá được. Đây không phải là một tác phẩm điêu khắc thật đẹp, nhưng là một bức tượng chân dung rất hiếm có của nghệ thuật thời Tây Sơn. Bức tượng cho thấy một hình ảnh cụ thể về Đô đốc Đặng Tiến Đông, vị tướng Tây Sơn đã có công lập nên chiến thắng Đống Đa lịch sử.

Đặng Tiến Đông mất ngày 15 tháng 4, vào một năm khoảng cuối đời Tây Sơn (năm cụ thể chưa xác định được). Mộ ông táng ở xứ Đồng Trê, nay thuộc thôn Đầm Dền, xã Đại Yên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội.

Sử sách không ghi chép một câu nào về Đặng Tiến Đông. Nhưng những tài liệu, di vật mới phát hiện cho phép nêu cao công lao, sự nghiệp của Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông và trả lại cho ông vị trí xứng đáng cùng với cống hiến xuất sắc trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1788-1789.

Đặng Tiến Đông là một trong những sĩ phu tiến bộ ở Bắc Hà đã sớm tìm ra con đường đi đúng đắn của mình trong tình hình đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc cực kỳ ác liệt và phức tạp cuối thế kỷ XVIII. Ông đã kiên quyết và dũng cảm đi theo phong trào Tây Sơn, đứng về phía nhân dân và dân tộc. Phương hướng đúng đắn đó đã mở ra cho ông một cuộc đời mới, tạo điều kiện cho ông phát huy tài năng của mình, có những cống hiến tích cực đối với lịch sử.

Đặng Tiến Đông đã sớm trở thành một tướng soái tài ba của quân đội Tây Sơn. Dưới sự tổ chức và lãnh đạo tuyệt vời của Quang Trung Nguyễn Huệ, Đô đốc Đông đã chỉ huy quân Tây Sơn đánh thắng trận Đống Đa, góp phần quan trọng tạo nên mùa xuân đại thắng của dân tộc năm Kỷ Dậu 1789.

Nguồn: Danh tướng Việt Nam – Tập 3 / Nguyễn Khắc Thuần

Read Full Post »

“Ngọc tốt giấu kín nơi sâu, / Rồng thần lặn không kẻ thấy. / Chờ khi người biết đến mình, / Chí lớn nọ đem ra vùng vẫy. / Giúp tám cực mà chuyển xoay, / Vỗ chín cõi yên rường mối” – Ngô Thì Nhậm (Mộng Thiên Thai phú. Lời dịch của Ngô Linh Ngọc. Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, tập 2.-H.: KHXH, Hà Nội, 1978.-Tr.41)

Ngô Thì Nhậm sinh ngày 11 tháng 9 năm Bính Dần (1746) tại làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, nay là thôn Tả Thanh Oai, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì (Hà Nội). Ông là con trai của Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ (1725-1780).

TIỂU DẪN

Cơn bão quật khởi của phong trào Tây Sơn đã thực sự tạo nên sức mạnh rung trời chuyển đất. Sức mạnh vĩ đại đó đã cuốn hút sự tham gia của hàng chục vạn nông dân khắp cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Sức mạnh vĩ đại đó đã lần lượt đè bẹp tất cả thù trong lẫn giặc ngoài, làm rạng rỡ truyền thống ngoan cường và bất khuất của tổ tiên ta. Và cũng chính sức mạnh vĩ đại đó đã có tác dụng phân hóa sâu sắc đối với đội ngũ giai cấp phong kiến thống trị đương thời. Không ít sĩ phu yêu nước và thức thời đã hiên ngang đứng hẳn về phía Tây Sơn, có nhiều cống hiến lớn lao đối với Tây Sơn, cũng là cống hiến lớn lao cho lịch sử dân tộc. Tuy đến với Tây Sơn sớm muộn có khác nhau và tuy mức độ cống hiến cũng không đồng nhất, nhưng, hình ảnh của tất cả những sĩ phu yêu nước và thức thời ấy đều được sử sách ghi lại một cách rất trân trọng. Ba gương mặt tiêu biểu của những sĩ phu yêu nước và thức thời này là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích Nguyễn Thiếp. Ba nhân vật đặc biệt này tuy chưa bao giờ trực tiếp cầm quân xông pha trận mạc, nhưng, với tầm nhìn và phép ứng xử tuyệt vời của mình, họ đã có ảnh hưởng rất quan trọng đối với hoạt động và thắng lợi chung của phong trào Tây Sơn.

Thuở thiếu thời, Ngô Thì Nhậm được ông nội là Ngô Trân nuôi dạy. Khi ông nội qua đời, Ngô Thì Nhậm được cha là Ngô Thì Sĩ trực tiếp kèm cặp. Vốn hiếu học lại thông minh, Ngô Thì Nhậm tiến tới rất nhanh. Năm mới 16 tuổi, được cha tận tình dìu dắt, Ngô Thì Nhậm đã hoàn tất tác phẩm đầu đời của mình là Nhị thập tứ sử toát yếu (Sách này nay đã thất truyền). Năm 1765 (năm 19 tuổi), Ngô Thì Nhậm đỗ Giải Nguyên (đỗ đầu ở trường thi Hương) và năm sau (năm 1766, năm tròn 20 tuổi), Ngô Thì Nhậm đã hoàn tất cuốn sách thứ hai của ông: Tứ gia thuyết phả (Sách này nay đã thất truyền). Trong đội ngũ các bậc danh nho thuở trước, đỗ đạt sớm như Ngô Thì Nhậm vốn dĩ đã rất ít, để chí lập ngôn sớm như Ngô Thì Nhậm lại càng ít hơn.

Năm 1769 (năm 23 tuổi), Ngô Thì Nhậm đỗ trong khoa Sĩ vọng, nhờ đó, được bổ làm Hiến sát sứ ở Hải Dương, hưởng chức hàm Chánh thất phẩm (Quan lại xưa được chia làm 9 phẩm cấp, mỗi phẩm cấp lại còn được chia làm 2 bậc cao thấp khác nhau là Chánh và Tòng, cộng là 18 bậc. Như vậy, Ngô Thì Nhậm thuộc bậc 13/18). Ông chính thức bước vào hoạn lộ kể từ đó. Năm 1771 (năm 25 tuổi), do cha là Ngô Thì Sĩ bị Hoàng Ngũ Phúc vu oan và bị Chúa Trịnh Sâm (1767-1782) cách chức, Ngô Thì Nhậm xin từ quan để trở về quê. Năm 1772 (năm 26 tuổi), Ngô Thì Nhậm dự kỳ khảo thí ở Quốc Tử Giám và đỗ hạng ưu. Cũng vào năm này, ông hoàn tất cuốn Hải Đông chí lược. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú (1782-1840) cho hay, sách này gồm 4 quyển, “chép về núi sông, phong tục và nhân vật cùng các lệ thuế và số đinh suất của xứ Hải Dương khá rõ ràng” (Văn tịch chí (Loại truyện kí)). Năm 1775 (năm 29 tuổi), Ngô Thì Nhậm đỗ Tiến sĩ (Khoa này chỉ lấy đỗ cao nhất là Tiến sĩ, tổng cộng có 18 người đỗ, Ngô Thì Nhậm đỗ thứ năm. Em rể của ông là Phan Huy Ích (1751-1822) cũng đỗ trong khoa này) và sau đó được bổ làm Hộ khoa Cấp sự trung. Năm 1776 (năm tròn 30 tuổi), ông được thăng làm Giám sát Ngự sử rồi Đốc đồng Kinh Bắc (vùng tương ứng với Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay). Năm 1778 (năm 32 tuổi), ông được kiêm luôn cả Đốc đồng Thái Nguyên. Bấy giờ, Ngô Thì Sĩ cũng đang làm Đốc đồng Lạng Sơn, thật đúng là:

“Nhất gia binh tượng liên tam trấn,
Vạn lý phong cương khống nhị thùy”

(Ngô Thì Nhậm. Hạ tôn thiều phó hùng trấn
(tức Mừng cha đi trấn giữ ở trấn quan trọng)).

Nghĩa là:

“Một nhà chỉ huy cả ba trấn
Muôn dặm trông coi bờ cõi hai biên thùy”

Cũng trong thời gian làm Đốc đồng Kinh Bắc kiêm Đốc đồng Thái Nguyên, Ngô Thì Nhậm đã viết Thánh triều hội giám (Sách này nay đã thất truyền).

ngothinham
Ngô Thì Nhậm

Năm 1780 (năm 34 tuổi), trong chỗ đẩy đưa không ngờ của thế cuộc, bỗng dưng, Ngô Thì Nhậm phải mang tiếng xấu với đời. Chuyện này mỗi sách chép một kiểu, tuy nhiên, tổng hợp và phân tích những tài liệu tin cậy nhất, chúng ta có thể tóm lược như sau:

Trước đó, chúa Trịnh Sâm đã lập con trưởng là Trịnh Khải (tức Trịnh Tông (mẹ người họ Dương, sinh năm 1763, sau làm Chúa 4 năm (1782-1786)) làm Thế tử, nhưng rồi đến tháng 9 năm 1780, do quá si mê với Tuyên phi Đặng Thị Huệ (tức Bà Chúa Chè vì bà vốn người làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, mà làng này lại có tục danh là làng Chè), Trịnh Sâm đã truất ngôi Thế tử của Trịnh Khải và lập con trai thứ do Đặng Thị Huệ sinh hạ là Trịnh Cán (lúc này còn rất nhỏ) lên thay.

Trịnh Khải tức giận, liền cùng với quan giữ chức Trấn thủ ở Sơn Tây là Nguyễn Khản và quan giữ chức Trấn thủ ở Kinh Bắc là Nguyễn Khắc Tuân (con nuôi của Nguyễn Phương Đĩnh, xuất thân võ quan, trước đó từng có mối quan hệ khá thân mật với Trịnh Khải), bàn mưu chuẩn bị lực lượng để chờ khi Trịnh Sâm qua đời (Lúc này, Trịnh Sâm đang lâm bệnh nặng) là giết Quận Huy (tức Huy Quận công Hoàng Đình Bảo, còn có tên khác là Hoàng Tố Lý. Ông người làng Phụng Công, huyện Yên Dũng, nay thuộc tỉnh Bắc Giang. Quận Huy là cháu của Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc, xuất thân là quan võ. Lúc này, Quận Huy và Đặng Thị Huệ có mối quan hệ rất gắn bó với nhau. Sau Quận Huy bị kiêu binh giết chết), bắt Đặng Thị Huệ và Trịnh Cán rồi giành lấy ngôi chúa cho Trịnh Khải.

Biết chuyện, Ngô Thì Nhậm đã có lời can ngăn, nhưng, việc chưa đâu vào đâu thì Ngô Thì Sĩ qua đời, ông phải về nhà chịu tang cha. Và cũng đúng lúc ấy, cơ mưu của Trịnh Khải bị bại lộ, Trịnh Sâm hạ lệnh bắt giam Trịnh Khải, đồng thời, xử tội rất nặng một loạt đại thần: giết chết Đàm Xuân Thụ (hiện chưa rõ lai lịch, chỉ biết đó là người rất được Trịnh Khải tin cậy), bắt giam Nguyễn Khản, Nguyễn Khắc Tuân, Nguyễn Phương Đĩnh (cha nuôi của Nguyễn Khắc Tuân, Trấn thủ Kinh Bắc. Lúc này, Nguyễn Phương Đĩnh được chúa Trịnh là Trịnh Sâm giao việc nuôi dạy Trịnh Khải) và Chu Xuân Hán (hoạn quan, người huyện Chương Đức, nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây). Sau Trịnh Sâm cho là Nguyễn Phương Đĩnh nuôi dạy Trịnh Khải mà không làm được công trạng gì, bèn lột hết chức tước rồi đuổi về quê (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, quyển 45, tờ 22 ). Trong ngục tối, Nguyễn Khắc Tuân và Chu Xuân Hán đã vì uất ức mà uống thuốc độc tự tử (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, quyển 45, tờ 22 ), riêng Nguyễn Khản thì khi Trịnh Khải lên ngôi Chúa liền được tha và đến tháng 7 năm 1783 lại được thăng làm Lại bộ Thượng thư, quyền Tham tụng.

Bấy giờ, Huy Quận công Hoàng Đình Bảo vốn có tư thù với Ngô Thì Nhậm, bèn tìm mọi cách để xin cho Ngô Thì Nhậm được làm Công bộ Hữu Thị lang, tạo cớ cho thiên hạ phao tin rằng Ngô Thì Nhậm là “sát tứ phụ nhi Thị lang” nghĩa là giết bốn người cha để làm Thị lang (4 người cha đó, có sách nói là Trịnh Khải (quân phụ), Ngô Thì Sĩ (thân phụ), Nguyễn Khắc Tuân và Chu Xuân Hán (phụ chấp: bạn của cha). Tuy nhiên, cũng có sách nói là Ngô Thì Sĩ (thân phụ), Nguyễn Khản, Nguyễn Khắc Tuân và Chu Xuân Hán (phụ chấp)). Ngô Thì Nhậm biết là sự chẳng lành sẽ đến nên cố từ chối, nhưng gia đình lại có người bàn rằng, cần phải mềm dẻo mới mong tránh được những sự thù oán tiếp theo, vì thế, Ngô Thì Nhậm buộc phải nhận chức, nhưng lấy cớ là đang chịu tang cha cho nên không dâng biểu tạ ơn (Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, Hồi thứ nhất).

Sự kiện trên xảy ra vào năm 1780, năm Canh Tý, vì thế, sử thường gọi đó là vụ án năm Canh Tý. Trong vụ án này, Ngô Thì Nhậm là người vô tội. Lúc đầu, ông có ý định can ngăn đối với những người ủng hộ mưu đồ của Trịnh Khải, nhưng, việc chưa tiến hành thì ông đã phải về chịu tang cha. Việc Ngô Thì Sĩ qua đời lúc ấy chỉ hoàn toàn là tình cờ, không phải là bởi uất ức vì chuyện Ngô Thì Nhậm phát giác mưu mô của những người ủng hộ Trịnh Khải (trong đó có mình) như một vài tài liệu đã viết.

Năm 1782 (năm 36 tuổi), do những biến cố dồn dập trong Phủ Chúa, Ngô Thì Nhậm phải về quê vợ ở một thời gian khá dài. Năm đó, Trịnh Sâm qua đời, chưa được bao lâu thì kiêu binh nổi lên, phế Trịnh Cán (con thứ của Trịnh Sâm do bà Đặng Thị Huệ sinh hạ. Tháng 10 năm 1781, Trịnh Cán được lập làm Thế tử và tháng 9 năm 1782 thì được lập làm Chúa. Tháng 10 năm 1782, Trịnh Cán bị phế truất và mất vào cuối năm 1782 vì bệnh), giết Huy Quận công và tôn lập Trịnh Khải lên ngôi Chúa. Ngay khi vừa được tôn lên ngôi Chúa, Trịnh Khải đã tìm đủ mọi cách để báo ân báo oán. Nhân cơ hội đó, có kẻ đề nghị Trịnh Khải bắt Ngô Thì Nhậm nhưng Trịnh Khải không trả lời. Ngô Thì Nhậm thấy thật khó mà được bình an, bèn trốn về quê vợ (ở Vũ Thư, Thái Bình) như đã nói ở trên.

Năm 1786 (năm 40 tuổi), Ngô Thì Nhậm được chứng kiến tận mắt biến cố lớn lao của lịch sử nước nhà: quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã tiến thẳng ra Thăng Long, tiêu diệt họ Trịnh, tôn phù nhà Lê. Chỉ với một cuộc tấn công chớp nhoáng, Nguyễn Huệ đã đập tan toàn bộ lực lượng của họ Trịnh (Trịnh Khải chạy trốn nhưng sau đó bị bắt nạp cho Tây Sơn. Dọc đường bị áp giải, Trịnh Khải đã tự tử), dựng lại cơ đồ của họ Lê vốn dĩ đã đổ nát trước đó hàng trăm năm. Chính biến cố này đã có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến nhận thức của Ngô Thì Nhậm. Ông đã âm thầm theo dõi với tất cả thiện chí của mình.

Năm 1788 (năm 42 tuổi), hưởng ứng lời cầu hiền của Nguyễn Huệ, cùng với một số cựu thần khoa bảng khác như Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch…, Ngô Thì Nhậm đã ra nhận chức với chính quyền Tây Sơn, ông được phong làm Lại bộ Tả Thị lang, tước Tình Phái hầu, được cùng với một trọng thần của Tây Sơn là Võ Văn Ước trông coi mọi việc quan hệ đến quan lại của nhà Lê.

Cứ như ghi chép của sử cũ thì cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Ngô Thì Nhậm với Võ Văn Ước cũng có một giai thoại khá đặc biệt. Chuyện kể rằng, người đến sớm nhất trong ngày quan lại nhà Lê yết kiến Nguyễn Huệ là Ngô Thì Nhậm. Hôm ấy, Võ Văn Ước được Nguyễn Huệ giao trách nhiệm tổ chức đón tiếp. Thấy Ngô Thì Nhậm, Võ Văn Ước cứ tưởng là Sùng Nhượng công Lê Duy Cẩn, vì thế, vội vã mời lên ngồi ngang hàng với mình. Một lúc sau, quan lại nhà Lê lục tục kéo đến và tề tựu ở ngay dưới sân. Không còn cách nào hơn, Ngô Thì Nhậm đành đứng dậy và lặng lẽ đi ra nơi khác, bấy giờ, Võ Văn Ước mới biết rằng đó không phải là Sùng Nhượng công Lê Duy Cẩn mà là Ngô Thì Nhậm! Giận vì cho là Ngô Thì Nhậm vô lễ, lập tức, Võ Văn Ước sai người đi bắt. Ngô Thì Nhậm bèn chạy đến tìm gặp Trần Văn Kỷ nhờ giúp đỡ. Trần Văn Kỷ từng ra Thăng Long dự thi Hội (nhưng không đỗ), từng được gặp và do đó rất phục tài của Ngô Thì Nhậm. Lúc này, Trần Văn Kỷ đang được Nguyễn Huệ trọng dụng, cho nên Ngô Thì Nhậm rất tin là có thể che chở cho mình được. Gặp Trần Văn Kỷ, Ngô Thì Nhậm được thông báo rằng, chính Nguyễn Huệ cũng đã biết tiếng của Ngô Thì Nhậm, tin là có thể giao cho Ngô Thì Nhậm trọng trách của chính quyền mới, vì thế, đã giao cho Trần Văn Kỷ đi tìm Ngô Thì Nhậm. Ngay lập tức, Trần Văn Kỷ dẫn Ngô Thì Nhậm vào yết kiến Nguyễn Huệ. Đó là một cuộc gặp gỡ cảm động và tương đắc giữa đấng anh hùng cái thế là Nguyễn Huệ với bậc văn tài xuất chúng là Ngô Thì Nhậm. Và Nguyễn Huệ đã phong chức ban tước cho Ngô Thì Nhậm như đã nói ở trên.

Chỉ ít ngày sau đó, Nguyễn Huệ trở lại Phú Xuân. Để cai quản lực lượng của mình ở Bắc Hà, đồng thời, để phòng mọi bất trắc có thể xảy ra, Nguyễn Huệ đã thành lập một Bộ chỉ huy Tây Sơn đặt đại bản dinh ngay tại Thăng Long. Bộ chỉ huy này do Đại Tư mã Ngô Văn Sở đứng đầu và sát cánh với Ngô Văn Sở là một số tướng lĩnh như Phan Văn Lân, Võ Văn Dũng, Nguyễn Văn Tuyết… Ngoài ra, nhiều văn thần cũ của nhà Lê, trong đó có Ngô Thì Nhậm, cũng được Nguyễn Huệ tin cậy cho tham gia vào Bộ chỉ huy. Trước khi rời Thăng Long, Nguyễn Huệ đã ân cần dặn dò:

“(Ngô Văn) Sở, (Phan Văn) Lân là nanh vuốt của ta, (Võ Văn) Dũng và Ngôn (chưa rõ họ – NKT) là tâm phúc của ta, còn (Ngô Thì) Nhậm là bề tôi mới của ta. Ngày nay, ta giao việc quân quốc của 11 trấn Bắc Hà cho các ngươi, vì thế, các ngươi phải lo toan liệu mà làm việc. Điều gì cần bàn thì phải họp bàn với nhau, chớ có phân biệt người mới với người cũ. Lòng ta chỉ mong như vậy mà thôi” (Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, quyển 30).

Lời ấy là lời thực sự tin cậy của Nguyễn Huệ đối với Ngô Thì Nhậm và Ngô Thì Nhậm cũng đã hoàn toàn xứng đáng với lòng tin cậy lớn lao ấy của Nguyễn Huệ.

Cuối năm 1788, 29 vạn quân Mãn Thanh mượn cớ có Lê Chiêu Thống cầu cứu, đã giương ngọn cờ chính trị giả hiệu là “phù Lê diệt Tây Sơn” để tràn sang xâm lược nước ta. Trước tình thế đó, Bộ chỉ huy Tây Sơn đã họp để bàn kế sách đối phó. Ngô Thì Nhậm là một trong số những thành viên tham sự cuộc họp quan trọng này. Lúc đầu, ý kiến của các thành viên không nhất trí với nhau. Đại để có hai loại hình ý kiến chính như sau:

1) Loại hình ý kiến thứ nhất cho rằng, họ được Nguyễn Huệ giao trách nhiệm ở lại giữ thành và giữ đất, vậy thì hễ giặc đến là phải liều chết mà đánh, không cần phải bàn luận gì nhiều. Chủ xướng loại hình ý kiến này là Đại Tư mã Ngô Văn Sở. Rõ ràng, đây là loại hình ý kiến thể hiện một tinh thần trách nhiệm rất cao, nhưng đó là thứ tinh thần trách nhiệm cứng nhắc, không tính toán đến kết quả cuối cùng sẽ ra sao.

2) Loại hình ý kiến thứ hai cũng có điểm tương đồng với loại hình ý kiến thứ nhất, đó là phải quyết đánh quân xâm lăng, nhưng khác hẳn về phương thức đánh. Họ cho rằng, muốn đánh và đánh thắng quân Mãn Thanh, trước hết phải đem quân lên biên ải, kế thừa kinh nghiệm mai phục của Lê Lợi thuở trước, đánh phủ đầu bằng nhiều trận lớn nhỏ ngay khi chúng vừa đặt chân lên lãnh thổ nước ta, thì mới có thể giữ yên được bờ cõi. Chủ xướng loại hình ý kiến này là Võ Văn Dũng và Phan Văn Lân. Đây là ý kiến tỏ rõ sự hiểu biết khá sâu về truyền thống và kinh nghiệm chống xâm lăng của tổ tiên, nhưng lại cũng bộc lộ sự đánh giá chưa chính xác về tình hình cụ thể của Bắc Hà lúc bấy giờ. Gần 400 năm trước khi quân Mãn Thanh sang xâm lược nước ta, sở dĩ Lê Lợi có thể liên tiếp tổ chức nhiều trận mai phục kéo dài từ Chi Lăng đến Xương Giang là vì lúc đó, lòng dân đã hoàn toàn hướng về Lam Sơn. Đến đây, nhân tâm ly tán, và trong điều kiện đó, không một kế hoạch mai phục nào lại có thể thành công được.

Đúng lúc đó, Ngô Thì Nhậm đã nêu ra một loại hình ý kiến khác hẳn. Ông nói với Ngô Văn Sở, cũng là nói với các tướng trong Bộ chỉ huy quân đội Tây Sơn ở Bắc Hà rằng:

“Xưa nay, phép dụng binh chỉ thấy nói hoặc đánh hoặc giữ mà thôi. Nay quân Thanh đến đây, tiếng tăm rất lớn, đã thế bọn cam tâm làm nội ứng cho chúng ở trong nước đem phao tin đồn nhảm, khiến cho thanh thế của chúng càng trở nên to lớn thêm và cũng khiến cho lòng người sợ hãi. Quân ta giá thử có ai được sai phái đi đâu, thì vừa ra khỏi thành đã bị bắt giết. Số người Bắc Hà trong sổ quân của ta, hễ gặp dịp là bỏ trốn liền. Đem đội quân ấy đi mà đánh thì nào có khác gì xua bầy dê đi săn cọp dữ, bảo không thua thế nào được? Đến như việc đóng chặt cửa thành để cố thủ, thì khi lòng người đã không vững, chắc chắn thế nào cũng sẽ sinh ra mối lo ở bên trong. Đến lúc đó, dẫu cho Tôn, Ngô (chỉ Tôn Tử và Ngô Khởi, hai nhà binh pháp nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại – NKT) có sống lại cũng đành phải chịu bó tay, không làm gì hơn được nữa. Việc này chẳng khác gì đem chạch bỏ vào giỏ cua, xin hãy nghĩ kĩ lại. Nay đánh cũng chẳng được, giữ cũng không xong, vậy thì cả đánh lẫn giữ đều không phải là kế hay, rốt cuộc có lẽ chỉ còn một cách, đó là nhanh chóng sai thủy quân chở lương thực, giương buồm thuận gió mà ra biển rồi tiến vào cửa Biện Sơn (nằm giáp giới giữa Ninh Bình với Thanh Hóa ngày nay – NKT) mà đóng. Còn như bộ binh thì hãy sửa soạn khí giới mà gióng trống lên đường, lui về giữ miền Tam Điệp (cũng nằm giáp giới giữa Ninh Bình và Thanh Hóa ngày nay – NKT). Hai mặt thủy bộ cùng liên hệ với nhau, giữ chỗ hiểm yếu rồi cho người chạy về bẩm với Chúa công (chỉ Nguyễn Huệ – NKT). Ta cứ thử xem quân Thanh đến và xếp đặt việc của nhà Lê như thế nào, vua Lê Chiêu Thống sau khi phục quốc sẽ thu xếp việc quân việc nước ra sao, chờ đến khi Chúa công ra rồi quyết chiến một phen cũng không muộn gì” (Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, Hồi thứ 13).

Ý kiến xuất sắc này của Ngô Thì Nhậm đã nhanh chóng thuyết phục được Bộ chỉ huy Tây Sơn. Cuộc rút lui về Tam Điệp và Biện Sơn của quân Tây Sơn cuối năm 1788 chính là bởi sự nhất trí với ý kiến của Ngô Thì Nhậm. Ông còn nói thêm với chủ tướng là Đại Tư Mã Ngô Văn Sở rằng:

“Tướng giỏi ngày xưa thường lường trước thế giặc rồi mới đánh, cân nhắc để nắm chắc phần thắng rồi mới hành động, nghĩa là phải tùy theo tình thế đổi thay mà bày ra chước lạ. Giống như đánh cờ, trước phải nhường người một nước rồi sau mới thắng người một nước, không được đổi vị trí nước trước ra nước sau, đó mới là tay cao cờ. Nay ta hãy bảo toàn lấy quân lực mà lui, không bỏ mất một mũi tên nào cả. Hãy cho giặc được ngủ trọ một đêm rồi đuổi đi, cũng như ngọc bích của nước Tấn thuở xưa sau vẫn nguyên lành chớ có mất gì (Ở Trung Quốc thời Xuân Thu, nước Tấn muốn đánh cả nước Ngu lẫn nước Quắc. Lúc đầu, Tấn hay lấy ngựa tốt và ngọc quý đem đút lót cho vua nước Ngu để mượn đường nước Ngu đi đánh Quắc. Vua nước Ngu dại dột nghe theo. Đến khi diệt được Quắc rồi, Tấn liền đem quân diệt luôn cả Ngu. Nước Ngu thua trận, bao nhiêu ngọc quý trước đó Tấn đem đút lót cho vua nước Ngu đều bị Tấn thu hồi lại). Nếu có vì thế mà mắc lỗi, tôi sẽ xin bộc bạch với Chúa công, thế nào cũng được lượng xét, xin ông chớ có nghi ngại gì” (Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, Hồi thứ 13).).

Khi đem đại quân tiến ra Tam Điệp và Biện Sơn nhằm chuẩn bị cho trận quyết chiến với quân Mãn Thanh, phát biểu trong cuộc gặp gỡ với các tướng lĩnh và văn thần cao cấp của mình, Quang Trung Nguyễn Huệ khẳng định:

“Các ngươi đóng quân ở nơi trơ trọi, giặc Thanh kéo sang, người trong kinh kỳ làm nội ứng cho chúng, các ngươi làm sao mà cử động được? Các ngươi đã biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của chúng, chia quân đóng giữ nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng. Kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói, ta đã đoán là do Ngô Thì Nhậm chủ mưu, sau hỏi (Nguyễn) Văn Tuyết thì quả đúng như vậy” (Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, Hồi thứ 14).

Chưa bao giờ là võ tướng trực tiếp cầm quân xông pha trận mạc, nhưng ý kiến của Ngô Thì Nhậm về đối sách tạm thời của quân đội Tây Sơn quả là rất xuất sắc. Thắng lợi vang dội của Tây Sơn trong trận quyết chiến chiến lược Ngọc Hồi – Đống Đa sau đó gắn chặt với công lao khởi xướng ý kiến đúng đắn này của Ngô Thì Nhậm.

Khi đất nước đã sạch bóng quân xâm lăng, Ngô Thì Nhậm được Quang Trung thăng làm Binh bộ Thượng thư. Đó là một sự tưởng thưởng xứng đáng, thể hiện niềm tin cậy ngày một vững chắc và lớn lao của Quang Trung đối với ông. Đáp lại, Ngô Thì Nhậm cũng đã không ngừng có thêm những đóng góp to lớn cho chính quyền của Quang Trung. Tổng kết những ghi chép tản mạn của sử cũ, chúng ta có thể khái quát các cống hiến của Ngô Thì Nhậm từ năm 1789 (năm 43 tuổi) trở về sau như sau:

Một là, bằng tiếng nói sắc bén, thấu lý và đạt tình, Ngô Thì Nhậm đã lôi kéo được không ít trí thức khoa bảng từng phục vụ cho Vua Lê và Chúa Trịnh, trút bỏ mặc cảm để hợp tác đắc lực và rất có hiệu quả đối với guồng máy chính quyền của Quang Trung. Trong số những người được Ngô Thì Nhậm cảm hóa, giới thiệu và tiến cử, chúng ta thấy nổi bật lên những tên tuổi như: Phan Huy Ích (1751-1822) (người làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, đỗ Tiến sĩ năm 1775. Ông là con của Tiến sĩ Phan Huy Cận (tức Phan Huy Áng), anh của Tiến sĩ Phan Huy Ôn và là cha của nhà bác học Phan Huy Chú), Trần Bá Lãm (1758-1815) (người làng Vân Canh, huyện Từ Liêm, nay là xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội; đỗ Chế khoa (tương đương Tiến sĩ) năm 1787), Ninh Tốn (1744-1790) (người làng Côi Trì, huyện Yên Mô, nay thuộc xã Yên Mỹ, huyện Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình; đỗ Tiến sĩ năm 1778), Vũ Huy Tấn (người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương. Ông là con của Tiến sĩ Vũ Huy Đĩnh), Đoàn Nguyễn Tuấn (người làng Hải An, huyện Quỳnh Côi (nay thuộc xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Ông là con của Tiến sĩ Đoàn Nguyễn Thục)… Tuy mức độ cao thấp có khác nhau, nhưng tất cả họ đều có những cống hiến rất đáng được trân trọng.

Hai là,  thay mặt Hoàng Đế Quang Trung, soạn thảo kế hoạch và trực tiếp chỉ huy việc thực hiện chủ trương thiết lập mối quan hệ bang giao hữu hảo với triều đình Mãn Thanh. Đây là một công việc cực kỳ khó khăn, bởi lẽ sau thất bại thảm hại ở trận Ngọc Hồi – Đống Đa, triều đình Mãn Thanh đang muốn quyết chí đánh báo thù. Nhưng, bằng tất cả sự uyển chuyển và khôn khéo, Ngô Thì Nhậm đã buộc triều đình Mãn Thanh phải từ bỏ ý định đánh báo thù, công nhận nền độc lập và tự chủ của nước ta, công nhận chính quyền do Quang Trung đứng đầu, đồng thời, từ bỏ âm mưu lợi dụng tập đoàn Lê Chiêu Thống lưu vong. Công lao của Ngô Thì Nhậm trong lĩnh vực này là vô cùng to lớn: Không phải là ngẫu nhiên, cũng không phải hoàn toàn là tán dương một cách vô lối, khi người đương thời cũng như hậu thế vẫn thường nói “Ngô Thì Nhậm là Quang Trung thời bình”. Cuối năm 1788, khi chuẩn bị cho trận đại phá quân Thanh, trong một cuộc gặp gỡ các tướng lĩnh và văn thần cao cấp tại Tam Điệp và Biện Sơn, chính Quang Trung đã khẳng định vai trò của Ngô Thì Nhậm trong cuộc đấu trí ngoại giao ác liệt này:

“Nay ta thân hành cầm quân ra, phương lược tiến đánh đều đã được tính toán sẵn, chẳng qua chỉ độ mươi ngày là đã có thể đánh được người Thanh. Nhưng, chúng là nước lớn gấp 10 nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt sẽ lấy làm hổ thẹn mà dốc chí đánh báo thù, như thế thì họa binh đao sẽ chẳng bao giờ dứt, đó không phải là điều phúc cho dân, ai nỡ lòng nào mà làm được? Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới mong dập tắt được binh đao, nếu chẳng phải là Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được” (Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, Hồi thứ 14).

Xứng đáng với niềm tin cậy lớn lao của Quang Trung, Ngô Thì Nhậm đã hoàn thành xuất sắc việc mà Quang Trung cho là “nếu chẳng phải là Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được”. Ông là tác giả của kịch bản cho người đóng giả Quang Trung (Theo ghi chép của Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, quyển 30, người được cử đóng giả là Quang Trung là Phạm Công Trị) sang chầu và dự lễ bát tuần khánh thọ (lễ mừng thọ 80 tuổi) của Hoàng đế Mãn Thanh Càn Long.

Ngày 16 tháng 9 năm 1792, Quang Trung đột ngột qua đời, hưởng thọ 39 tuổi! Đó là tổn thất lớn nhất của Tây Sơn. Con của Quang Trung là Quang Toản lên nối ngôi. Cuối năm ấy (năm 46 tuổi), Ngô Thì Nhậm được cử làm Chánh sứ sang Mãn Thanh để vừa báo tang vừa cầu phong cho Quang Toản. Và ông đã hoàn thành tốt đẹp chuyến đi sứ đó.

Tiếc thay, sau cái chết của Quang Trung, cuộc khủng hoảng chính trị trong nội bộ Tây Sơn diễn ra ngày một trầm trọng khiến cho sức mạnh ngỡ như “bất khả chiến bại” của Tây Sơn nhanh chóng bị tiêu hao. Là nhà khoa bảng và là bậc đại thần giàu lòng “ưu thời mẫn thế, Ngô Thì Nhậm theo dõi những biến đổi của thời cuộc với bao nỗi lo lắng không nguôi. Trên danh nghĩa, Quang Toản vẫn trọng dụng ông, nhưng, sự chia bè kết cánh của triều đình khiến cho ông không sao có thể tiếp tục phát huy được tài năng của mình. Ngô Thì Nhậm dành phần nhiệt huyết còn lại của mình cho việc cầm bút và nghiên cứu về Thiền học. Chính ông là người đã lập ra Trúc Lâm Thiền viện tại phường Bích Câu (nay thuộc Hà Nội) và cũng chính ông là tác giả của Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh. Đương thời cũng như hậu thế có thể có những ý kiến về thiền khác hẳn với Ngô Thì Nhậm, nhưng điều quan trọng đáng nói hơn lại là ở chỗ, giữa nhiễu nhương của cuộc đời Ngô Thì Nhậm đã tìm cho mình một lối sống tao nhã, không chút vướng bận đến vụ lợi và đua tranh.

Năm 1802, Nguyễn Ánh chiếm lại được toàn cõi nước ta và chính thức khai sinh ra triều Nguyễn. Một cuộc trả thù rất tàn bạo với tất cả những ai từng theo hoặc từng ủng hộ Tây Sơn bắt đầu. Ngô Thì Nhậm là một trong số những người bị trả thù đó. Đầu năm Quý Hợi (1803), Ngô Thì Nhậm cùng với Phan Huy Ích và Nguyễn Gia Phan cùng bị đem ra Văn Miếu để đánh đòn. Riêng Ngô Thì Nhậm vì chịu không nổi đau đớn, đã mất vào ngày 16 tháng 2 (ngày 9/3/1803), hưởng thọ 57 tuổi. Vì sao cả ba người cùng bị đòn roi mà chỉ có một mình Ngô Thì Nhậm chết? Cắt nghĩa điều này, đời có khá nhiều giai thoại, đại để cho rằng Ngô Thì Nhậm có mối hiềm khích đối với bạn học là Đặng Trần Thường. Sau Đặng Trần Thường trở thành tướng cao cấp của Nguyễn Ánh cho nên cũng là đánh roi, nhưng roi dùng để đánh Ngô Thì Nhậm bị Đặng Trần Thường sai cột thêm móc sắt. Giai thoại còn nói đến cuộc đối đáp giữa Ngô Thì Nhậm với Đặng Trần Thường khi Ngô Thì Nhậm bị đem ra Văn Miếu để đánh. Nhưng, giai thoại bao giờ cũng là… giai thoại, vì thế, xin được miễn nhắc lại ở đây.

Cuộc đời của Ngô Thì Nhậm là cuộc đời của một nhà yêu nước tầm vóc lớn, của một bậc khoa bảng thức thời, của một cây đại bút để lại cho đời rất nhiều tác phẩm quý, góp phần làm rạng rỡ cho văn hiến của nước nhà. Phần lớn các tác phẩm của Ngô Thì Nhậm đã được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội giới thiệu trong Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm (2 quyển), năm 1978.

Thời Tự Đức (1848-1883), vì Nhà vua có họ và tên thật là Nguyễn Phúc Thì, lại có tên khác là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, cho nên để tránh hai chữ húy là Thì và Nhậm, Ngô Thì Nhậm bị đọc thành Ngô Thời Nhiệm. Tên ông bị đọc khác đi nhưng ánh sáng tỏa ra từ cuộc đời và sự nghiệp của ông thì vẫn mãi mãi không đổi. Ngàn năm, còn đó… tên ông.

Nguồn: Danh tướng Việt Nam – Tập 3 / Nguyễn Khắc Thuần

Read Full Post »

“Được dự vào hàng công huân cao quý, cố sao đền đáp ơn vua vừa mới ban xuống; Nối dõi thư hương, càng gắng giữ nếp cũ thanh bạch của nhà xưa” – Phan Huy Ích (Dật thi lược toán)

Phan Huy Ích sinh ngày 12 tháng 12 năm Canh Ngọ (1751). Ông là con của Tiến sĩ Phan Huy Cẩn (1733-1800). Phan Huy Cẩn vốn người làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh), nhưng sau đó đã dời ra định cư tại làng Thụy Khuê, huyện Thạch Thất trấn Sơn Tây (nay làng Thụy Khuê thuộc tỉnh Hà Tây). Phan Huy Cẩn sau đổi tên là Phan Huy Áng.

TIỂU DẪN

Cơn bão quật khởi của phong trào Tây Sơn đã thực sự tạo nên sức mạnh rung trời chuyển đất. Sức mạnh vĩ đại đó đã cuốn hút sự tham gia của hàng chục vạn nông dân khắp cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Sức mạnh vĩ đại đó đã lần lượt đè bẹp tất cả thù trong lẫn giặc ngoài, làm rạng rỡ truyền thống ngoan cường và bất khuất của tổ tiên ta. Và cũng chính sức mạnh vĩ đại đó đã có tác dụng phân hóa sâu sắc đối với đội ngũ giai cấp phong kiến thống trị đương thời. Không ít sĩ phu yêu nước và thức thời đã hiên ngang đứng hẳn về phía Tây Sơn, có nhiều cống hiến lớn lao đối với Tây Sơn, cũng là cống hiến lớn lao cho lịch sử dân tộc. Tuy đến với Tây Sơn sớm muộn có khác nhau và tuy mức độ cống hiến cũng không đồng nhất, nhưng, hình ảnh của tất cả những sĩ phu yêu nước và thức thời ấy đều được sử sách ghi lại một cách rất trân trọng. Ba gương mặt tiêu biểu của những sĩ phu yêu nước và thức thời này là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích Nguyễn Thiếp. Ba nhân vật đặc biệt này tuy chưa bao giờ trực tiếp cầm quân xông pha trận mạc, nhưng, với tầm nhìn và phép ứng xử tuyệt vời của mình, họ đã có ảnh hưởng rất quan trọng đối với hoạt động và thắng lợi chung của phong trào Tây Sơn.

Từ nhỏ cho đến năm 20 tuổi, Phan Huy Ích sống và học tập tại quê cha đất tổ là làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc như đã nói ở trên. Năm 1771 (năm tròn 20 tuổi), Phan Huy Ích đỗ Giải nguyên (tức đỗ đầu khoa thi Hương) tại trường Nghệ An. Đây là một vinh dự đặc biệt đối với dòng Phan Huy, bởi vì trước đó gần hai chục năm (năm 1753), thân phụ Phan Huy Ích là Phan Huy Cẩn cũng đỗ Giải nguyên tại trường thi Hương này.

Sau khi đỗ Giải nguyên, Phan Huy Ích được trao một chức quan nhỏ tại trấn Sơn Nam. Ông trở thành học trò rồi thành con rể của Ngô Thì Sĩ (1726-1780) kể từ giai đoạn này. Năm 1775 (năm tròn 24 tuổi), Phan Huy Ích đỗ Hội nguyên Tiến sĩ. Khoa này, triều đình lấy đỗ 18 Tiến sĩ (mà không lấy ai đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa và Hoàng giáp). Anh vợ của Phan Huy Ích là Ngô Thì Nhậm cũng cùng đỗ Tiến sĩ trong khoa này. Một lần nữa, đây là vinh dự đặc biệt của dòng Phan Huy, bởi lẽ trước đó 19 năm (năm 1754), thân phụ ông là Phan Huy Cẩn cũng đỗ Hội nguyên Tiến sĩ như thế.

Năm 1776, nghĩa là đúng một năm sau khi đỗ Hội nguyên Tiến sĩ, Phan Huy Ích lại dự tiếp kỳ thi Ứng chế và ông cũng đã đỗ trong khoa này. Từ đó, hoạn lộ của Phan Huy Ích ngày một rộng mở. Năm 1776, ông được trao chức Hàn lâm Viện Thừa chỉ. Năm 1777, ông được trao chức Đốc đồng trấn Thanh Hoa. Sau đó không bao lâu, Phan Huy Ích được trao chức Thiêm sai ở Phủ Chúa Trịnh. Cũng trong khoảng thời gian này, Phan Huy Ích được cử lên Nam Quan để ứng tiếp sứ giả của nhà Mãn Thanh.

Năm 1780, con trưởng của Chúa Trịnh Sâm là Trịnh Tông (tức Trịnh Khải) đã âm mưu làm chính biến nhưng không thành. Trịnh Sâm đã tiến hành một cuộc đàn áp rất tàn khốc. Không ít quan lại và đại thần bị bức tử. Sử gọi đó là vụ án năm Canh Tý. Bấy giờ, vì là con rể của Ngô Thì Sĩ và là em rể của Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích cũng bị công kích từ nhiều phía khác nhau. Ông buồn nản quá, bèn cáo bệnh để xin từ quan nhưng không được, vì thế, ông liền đóng bè ở dưới sông, xa lánh mọi đồng liêu cũng như thuộc chức, mỗi tháng chỉ đến công đường một lần.

phanhuyich

Năm 1785, khi tình hình chung đã tương đối tạm ổn định, Phan Huy Ích mới trở lại với việc quan. Cuối năm đó, ông được trao chức Hiến Sát Thanh Hoa.

Năm 1786, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã ồ ạt tiến ra Bắc. Chúa Trịnh Tông bị bắt và tự tử dọc đường áp giải. Vua Lê lúc bấy giờ hèn yếu và bạc nhược, không đủ khả năng, càng không đủ uy tín để điều khiển mọi hoạt động của triều đình. Chính sự lại một phen rối ren đến khó tả. Thấy Nguyễn Huệ đã rút đại quân về Nam, phe đảng của họ Trịnh lại nổi lên. Sau những cuộc tránh giành khá ác liệt, Trịnh Bồng đã nắm được ngôi Chúa, đó chính là Yến Đô Vương. Trong thời gian ở ngôi Chúa ngắn ngủi của Yến Đô Vương, Phan Huy Ích được trao chức Đô cấp sự trung, kiêm Thiêm sai ở Phủ Chúa.

Cũng trong thời Yến Đô Vương, Phan Huy Ích còn được trao chức Đốc thị ở trấn Nghệ An kiêm Tán Lý Quân vụ ở trấn Thanh Hoa. Với chức vụ đó, ông được sai cầm quân đi đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉ mới giáp chiến, Phan Huy Ích đã bị Nguyễn Hữu Chỉnh bắt sống, may nhờ có bạn cũ là Nguyễn Kim Khuê ra sức tìm cách cứu giúp, ông mới được tha.

Năm 1787, khi tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm cầm quân ra đánh Nguyễn Hữu Chỉnh, Phan Huy Ích liền về Sài Sơn và ẩn mình tại đó. Thời làm quan cho Vua Lê, Chúa Trịnh của Phan Huy Ích cũng đến đó là chấm dứt.

Giữa năm 1788, khi Nguyễn Huệ trực tiếp cầm quân ra hỏi tội viên tướng thuộc quyền của mình là Vũ Văn Nhậm, cùng với một số nho sĩ tên tuổi khác như Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thế Lịch (1750-1829) (người làng Yên Lũng, huyện Từ Liêm, nay thuộc thôn Yên Lũng, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, Hà Nội, đỗ Tiến sĩ năm 1775, cùng khoa với Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm. Ông còn có tên khác là Nguyễn Gia Phan), Nguyễn Bá Lan (1757-?) (người làng Cổ Linh, huyện Gia Lâm, nay thuộc thị trấn Sài Đồng, huyện Gia Lâm, Hà Nội, đỗ Tiến sĩ năm 1785. Thời Quang Trung, ông được trao chức Trực Học sĩ), Ninh Tốn (1744-1790) (người làng Côi Trì, huyện Yên Mô, nay thuộc xã Yên Mỹ, huyện Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, đỗ Hội nguyên Tiến sĩ năm 1778. Thời Quang Trung, ông được trao chức Hàn lâm Trực Học sĩ), Đoàn Nguyễn Tuấn (hiện chưa rõ lai lịch, chỉ biết thời Quang Trung, ông được phong chức Lại bộ Tả Thị lang, tước Hải Phái hầu), Vũ Huy Tấn (1749-1800) (người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là thôn Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương. Thời Quang Trung, ông làm quan được thăng dần lên đến chức Thượng thư.)… Phan Huy Ích đã ra hợp tác với Tây Sơn. Ông được Nguyễn Huệ trao chức Tả Thị lang bộ Hộ, tước Thụy Nham hầu.

Sau khi nhận chức tước, Phan Huy Ích theo Nguyễn Huệ vào Phú Xuân. Hoàng Lê nhất thống chí và các tác phẩm của Phan Huy Ích đã xác nhận điều này. Cuối năm 1788, Lê Chiêu Thống rước quân Mãn Thanh sang giày xéo đất nước ta. Để trả thù những người theo Tây Sơn, Lê Chiêu Thống đã sai đục bỏ tên của Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích trên bia Tiến sĩ, đồng thời phát lệnh truy nã cả hai ông. Nhưng chỉ với một cuộc hành quân thần tốc và một trận quyết chiến chiến lược ở Ngọc Hồi-Đống Đa lịch sử, Quang Trung Nguyễn Huệ đã quét sạch quân Thanh ra khỏi bờ cõi, đồng thời, trừng trị đích đáng hành động phản quốc hại dân của Lê Chiêu Thống.

Chiến tranh kết thúc, Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm được Quang Trung tin cậy giao cho trọng trách thiết lập mối quan hệ bang giao hữu hảo với Mãn Thanh. Bằng tất cả tài năng và sự khôn khéo của mình, cùng với Ngô Thì Nhậm, ông đã có cống hiến rất xuất sắc trên mặt trận đấu tranh ngoại giao.

phamcongtri

Chân dung “giả vương” Phạm Công Trị (đóng vai Hoàng Đế Quang Trung) do Càn Long sai người vẽ

Năm 1790, nếu Ngô Thì Nhậm là tác giả của kịch bản đưa “giả vương” Phạm Công Trị sang dự lễ bát tuần khánh thọ của Hoàng Đế Càn Long, thì Phan Huy Ích là một trong những người thực hiện xuất sắc kịch bản này. Cùng với Ngô Văn Sở, Nguyễn Duật, Vũ Huy Tấn và Đoàn Nguyễn Tuấn… Phan Huy Ích đã đưa “giả vương” sang Trung Quốc, khéo léo đến độ không để xảy ra một sơ suất nào.

Năm 1792, Phan Huy Ích được thăng chức Thị Trung Ngự Sử. Nhưng, ông chưa kịp vui thì Quang Trung qua đời, nội bộ Tây Sơn mất đoàn kết ngày một nghiêm trọng. Ông được giao việc viết một số bài để hòa giải nhưng tình hình cũng chẳng tốt hơn được.

Năm 1802, Nguyễn Ánh chiếm lại được toàn cõi nước ta, Phan Huy Ích bị bắt cùng với Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Gia Phan (tức Nguyễn Thế Lịch), sau đó, bị đem ra đánh đòn tại Văn Miếu.

Năm 1803, Phan Huy Ích về sống tại Sài Sơn. Ông ở đó cho đến năm 1814 thì vào đất tổ là huyện Thiên Lộc để mở trường dạy học. Ông là một nhà giáo đức độ và tài ba, được người đương thời và đặc biệt là các thế hệ môn sinh rất kính trọng. Năm 1819, Phan Huy Ích nghỉ dạy vì tuổi đã cao và đến ngày 20 tháng 2 năm Nhâm Ngọ (1822), ông qua đời, hưởng thọ 71 tuổi.

Phan Huy Ích là một trong những người để lại cho đời khá nhiều tác phẩm. Phần lớn các sáng tác của ông đã được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội giới thiệu trong bộ Thơ văn Phan Huy Ích (ba tập, 1978). Phan Huy Ích còn là thân phụ của nhà bác học Phan Huy Chú (1782-1840).

Nguồn: Danh tướng Việt Nam – Tập 3 / Nguyễn Khắc Thuần.

Read Full Post »

“Học cho rộng rồi ước lược cho gọn, theo điều học biết mà làm” – Lời đáp của Nguyễn Thiếp đối với Quang Trung về việc học (Hoàng Xuân Hãn. La Sơn Phu Tử.-Paris: Minh Tân xuất bản, 1950.-Tr.146)

Nguyễn Thiếp sinh năm Quý Mão (1723) tại làng Mật Thôn, xã Nguyệt Ao, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, nay thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông vốn có tên là Nguyễn Minh, nhưng sau vì húy Minh Đô Vương tức Chúa Trịnh Doanh (1740-1767) nên mới đổi gọi là Nguyễn Thiếp. Trong số các danh sĩ sống vào giai đoạn lịch sử này, ít ai có nhiều tên hiệu như Nguyễn Thiếp: Hạnh Am, Khai Xuyên, Điền Ẩn, Cuồng Ẩn, Lạp Phong Cư sĩ, Bùi Phong Cư sĩ, Lục Niên Tiên sinh, Hầu Lục Niên, Lam Hồng Dị nhân, La Giang Phu Tử, La Sơn Phu Tử… Tuy nhiên, tên hiệu được đời biết đến nhiều hơn cả vẫn là La Sơn Phu Tử và sau đó là Hạnh Am.

TIỂU DẪN

Cơn bão quật khởi của phong trào Tây Sơn đã thực sự tạo nên sức mạnh rung trời chuyển đất. Sức mạnh vĩ đại đó đã cuốn hút sự tham gia của hàng chục vạn nông dân khắp cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Sức mạnh vĩ đại đó đã lần lượt đè bẹp tất cả thù trong lẫn giặc ngoài, làm rạng rỡ truyền thống ngoan cường và bất khuất của tổ tiên ta. Và cũng chính sức mạnh vĩ đại đó đã có tác dụng phân hóa sâu sắc đối với đội ngũ giai cấp phong kiến thống trị đương thời. Không ít sĩ phu yêu nước và thức thời đã hiên ngang đứng hẳn về phía Tây Sơn, có nhiều cống hiến lớn lao đối với Tây Sơn, cũng là cống hiến lớn lao cho lịch sử dân tộc. Tuy đến với Tây Sơn sớm muộn có khác nhau và tuy mức độ cống hiến cũng không đồng nhất, nhưng, hình ảnh của tất cả những sĩ phu yêu nước và thức thời ấy đều được sử sách ghi lại một cách rất trân trọng. Ba gương mặt tiêu biểu của những sĩ phu yêu nước và thức thời này là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích và Nguyễn Thiếp. Ba nhân vật đặc biệt này tuy chưa bao giờ trực tiếp cầm quân xông pha trận mạc, nhưng, với tầm nhìn và phép ứng xử tuyệt vời của mình, họ đã có ảnh hưởng rất quan trọng đối với hoạt động và thắng lợi chung của phong trào Tây Sơn.

Năm 1743, Nguyễn Thiếp đỗ Hương cống (học vị này về sau đổi gọi là Cử nhân). Sau khi dỗ, ông được Chúa Trịnh Doanh bổ làm Huấn đạo và chẳng bao lâu thì thăng làm Tri huyện của huyện Thanh Chương (Nghệ An). Thời Nguyễn Thiếp bước vào hoạn lộ cũng là thời tàn tạ thảm hại của chế độ phong kiến Đàng Ngoài. Buồn nản vì cảnh mục ruỗng của triều đình, cảnh đen bạc của nhân tình thế thái, Nguyễn Thiếp liền từ quan, về núi Thiên Nhẫn của quê nhà để sống cuộc đời thanh bạch của bậc ẩn cư.

Tuy chỉ đỗ Hương cống nhưng nhờ có thực tài và đức độ lại giàu khí khái, Nguyễn Thiếp có uy tín xã hội rất rộng lớn. Tên tuổi của ông có ảnh hưởng khá lớn đối với đội ngũ sĩ phu đương thời. Nguyễn Huệ sớm biết tiếng Nguyễn Thiếp, chủ yếu cũng bởi lý do này.

Cuối năm 1788, sau khi lên ngôi Hoàng Đế, Nguyễn Huệ đã dẫn đại quân thần tốc tiến ra Bắc để đánh trận quyết định với quân Mãn Thanh xâm lược. Dọc đường hành quân, dù vô cùng vội vàng và bận rộn với không biết bao nhiêu việc trọng đại, Nguyễn Huệ vẫn dành thời gian để cho mời Nguyễn Thiếp tới hỏi ý kiến. Tuy quyết chí xa lánh công danh và hoạn lộ, nhưng, Nguyễn Thiếp vẫn luôn luôn cố gắng theo dõi thật chặt chẽ mọi diễn biến của thời cuộc, bởi vậy, ý kiến của bậc ẩn sĩ này sắc sảo đến lạ lùng. Chuyện kể rằng, trong buổi gặp gỡ đầu tiên này, Nguyễn Huệ hỏi:

- “Quân Thanh sang đánh, nay ta đem quân chống cự, về kế công thủ và số được thua, tiên sinh cho biết thế nào?

Nguyễn Thiếp đáp rằng:

- “Nay trong nước trống không, lòng người ly tán. Quân Thanh ở xa lại, tình hình quân ta sức mạnh sức yếu không biết, thế công thế thủ không hay. Chúa công ra chuyến này chẳng qua 10 ngày là giặc Thanh sẽ tan” (Hoàng Xuân Hãn. La Sơn Phu Tử.-Paris: Minh Tân xuất bản, 1950).

N1

Trước khi hành quân ra Bắc đánh quân Thanh, Quang Trung vấn kế Nguyễn Thiếp

Nhận định của Nguyễn Thiếp rất phù hợp với nhận định của Nguyễn Huệ, bởi vậy, Nguyễn Huệ rất lấy làm vui. Ý định đánh nhanh thắng nhanh vốn đã được hình thành trước đó, đến đây càng được khẳng định, niềm tin ở thắng lợi to lớn và triệt để vốn đã mạnh mẽ, đến đây, càng trở nên mạnh mẽ gấp bội hơn. Trên cơ sở ý định vững chắc và niềm tin sắt đá đó, Nguyễn Huệ đã dõng dạc tuyên bố với quân sĩ của mình tại Tam Điệp-Biện Sơn rằng: Nay ta tới đây thân đốc việc binh, kế chiến thủ ra sao đều đã có phương lược định sẵn. Chỉ nội 10 ngày nữa, thế nào ta cũng quét sạch giặc Thanh” (Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, Hồi thứ 14). Và: “Nay hãy ăn Tết Nguyên Đán trước, đợi đến mồng 7 tháng giêng, vào thành Thăng Long sẽ mở tiệc lớn. Các ngươi hãy ghi nhớ lấy lời ta nói xem có đúng như vậy không (Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, quyển 30).

Diễn biến của trận quyết chiến chiến lược với quân xâm lược Mãn Thanh quả đúng như dự biến thiên tài của Nguyễn Huệ, như nhận định chính xác và sâu sắc của Nguyễn Thiếp. Bởi lý do này, Nguyễn Huệ càng trân trọng và đánh giá cao tài năng của Nguyễn Thiếp. Về phần mình, Nguyễn Thiếp cũng rất khâm phục Quang Trung Nguyễn Huệ cả về đức độ dày dặn lẫn trí dũng phi thường, vì thế, ông đã từ bỏ cuộc sống ẩn dật để ra cộng tác với chính quyền của Quang Trung. Nguyễn Thiếp được Quang Trung Nguyễn Huệ tin cậy, trao phó cho hai nhiệm vụ lớn.

Nhiệm vụ thứ nhất là làm Viện trưởng Viện Sùng Chính. Bấy giờ, Viện Sùng Chính là cơ quan trông coi về giáo dục, đồng thời, phụ trách việc dịch các tác phẩm kinh điển và giáo khoa của nho gia ra chữ Nôm. Cùng làm việc với ông trong Viện Sùng Chính còn có một số danh sĩ khác như Nguyễn Thiện (1763-1818) (người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh, đỗ Hương cống năm 1782), Nguyễn Công (hiện chưa rõ lai lịch), Phan Tố Định (hiện chưa rõ lai lịch),… Cơ quan Viện Sùng Chính đã dịch xong bộ Tiểu học (bộ sách giáo khoa, gồm các tác phẩm như Dương tiết, Minh Tâm, Thuyết ước…) và bộ Tứ thư (một trong 2 bộ kinh điển chủ yếu của nho gia (Ngũ kinh Tứ thư). Bộ Tứ thư gồm 4 tác phẩm: Luận ngữ, Trung dung, Đại học Mạnh Tử. Cả hai bộ Tiểu học Tứ Thư được Viện Sùng Chính dịch xong vào tháng 7/1792. Rất tiếc là chúng tôi chưa được tham khảo 32 tập bản dịch của Viện Sùng Chính nên không dám có một nhận định nhỏ nào) từ chữ Hán ra chữ Nôm. Hai bộ sách dịch này gồm tất cả 32 tập. Bản dịch chuyển về Phú Xuân, được Quang Trung khen ngợi, ban thưởng cho 100 quan tiền, ngoài ra, Quang Trung còn sai Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Thận cấp thêm cho Nguyễn Thiếp đến vài ba chục viên thư lại để giúp việc biên chép ở Viện Sùng Chính. Quang Trung còn yêu cầu dịch gấp Ngũ kinh (gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch Kinh Xuân Thu) ra chữ Nôm mà trước hết là Kinh Thi, Kinh Thư Kinh Dịch, hạn trong 3 tháng là phải xong! Nhưng, công việc đang tiến hành dở dang thì ngày 16 tháng 9 năm 1792, Quang Trung đột ngột qua đời và sau đó không bao lâu thì Nguyễn Thiếp cũng rời bỏ chức vụ Viện trưởng Viện Sùng Chính để trở về với cuộc sống ẩn dật như cũ (Trong La Sơn Phu Tử (Paris: Minh Tân xuất bản, 1950.-Tr.149-158), Hoàng Xuân Hãn có giới thiệu bộ Thi kinh giải âm khắc năm Quang Trung thứ năm (tức là năm 1792) và đoán rằng, có thế đó là bản dịch bộ Kinh Thi của Viện Sùng Chính. Chúng tôi không có bộ Thi kinh giải âm trong tay nên không dám lạm bàn. Còn Nguyễn Thiếp, sau khi Quang Trung mất một thời gian ngắn, đã quay về ẩn dật như cũ vì ông không đủ lòng tin, càng không thể phục đối với Quang Toản).

Tuy tồn tại không lâu nhưng cơ quan Viện Sùng Chính do Nguyễn Thiếp đứng đầu đã có những ảnh hưởng tốt đẹp và to lớn đối với chính quyền của Quang Trung nói riêng cũng như đối với sự phát triển của văn hóa nước nhà cuối thế kỷ thứ XVIII nói chung. Bấy giờ, Quang Trung chẳng những rất đề cao chữ Nôm mà còn muốn biến chữ Nôm thành văn tự chính thức của nước nhà. Nhiều văn kiện của nhà nước, bài làm của sĩ tử trong các khoa thi và một số giấy tờ quan trọng đã được viết bằng chữ Nôm. Việc làm táo bạo đó của Quang Trung đã được sự đồng cảm và ủng hộ mãnh liệt của Nguyễn Thiếp. Hai con người, hai thế hệ, hai chí hướng khác nhau, nhưng vẫn có sự gặp gỡ rất tương đắc với nhau. Văn học chữ Nôm thời Tây Sơn phát triển, một phần cũng bởi lý do này.

Nhiệm vụ thứ hai mà Nguyễn Thiếp đảm nhận là chọn nơi đóng đô cho chính quyền của Quang Trung Nguyễn Huệ. Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế ở Phú Xuân (nay thuộc Huế). Địa điểm được chọn làm nơi đăng quang của Nguyễn Huệ là núi Bân. Và cũng từ đó, kinh đô của chính quyền do Quang Trung Nguyễn Huệ đứng đầu được xác định là Phú Xuân. Sau cũng có lúc Nguyễn Huệ dự kiến dời đô ra vùng Yên Trường (nay thuộc Ninh Bình), nhưng cuối cùng, Nghệ An mới là đất được chọn lựa chính thức. Bấy giờ, người được ủy thác chọn địa điểm cụ thể trên đất Nghệ An để định đô là Nguyễn Thiếp. Đích thân Nguyễn Huệ viết thư bằng chữ Nôm gởi cho Nguyễn Thiếp để đốc thúc việc thực hiện quyết định quan trọng này. Thư có đoạn:

n2

Núi Bân, nơi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế cuối năm 1788

Hành cung sao cho hậu cận sơn, kỳ chính địa, phỏng tại dân cư ư gian, hay là đâu cát địa khả đô, duy Phu Tử đạo nhãn giám định. Tảo tảo bốc thành. Ủy cho Trấn thủ Thận tạo lập cung điện, kỳ tam nguyệt nội hoàn thành, đắc tiện giá ngự”.
Đoạn văn Nôm cổ ở trên xin tạm diễn nghĩa như sau: “Nơi vua ở sao cho phía sau thì gần núi, đất được chọn hoặc là ở giữa chốn dân cư, hoặc là đâu đất tốt có thể làm kinh đô được, tùy con mắt tinh tường của Phu Tử xét và định đoạt. Chọn nhanh nhanh lên. Ủy cho quan Trấn thủ là (Nguyễn Văn) Thận xây dựng cung điện, nội trong 3 tháng phải xong để tiện cho vua ra ở”.

n3

Bút tích của Nguyễn Huệ

Nguyễn Thiếp đã chọn địa điểm đóng đô mới cho chính quyền Quang Trung Nguyễn Huệ ở khoảng giữa núi Kỳ Lân và núi Phượng Hoàng của Nghệ An. Kinh đô mới này được đặt tên là Phượng Hoàng Trung Đô. Núi Phượng Hoàng tức là núi Dũng Quyết hay núi Quyết, còn núi Kỳ Lân tức núi Mèo. Phía trước của Phượng Hoàng Trung Đô là sông Lam. Công cuộc xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô đang tiến hành dở dang thì Quang Trung Nguyễn Huệ đột ngột qua đời. Vua kế vị là Quang Toản không tiếp tục sự nghiệp này nữa, vì thế, Phượng Hoàng Trung Đô chưa bao giờ thực sự là kinh đô cả. Ngày nay, Phượng Hoàng Trung Đô vẫn còn một số những dấu tích.

Như vậy, Nguyễn Thiếp là một trong số những nhân vật đặc biệt, để lại dấu ấn khá rõ rệt trong thời Quang Trung trên nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau.

Cuộc gặp gỡ giữa Quang Trung Nguyễn Huệ với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cũng là một trong những cuộc gặp gỡ khá độc đáo của thế kỷ thứ XVIII. Nguyễn Huệ tỏ ra rất trân trọng tài năng của Nguyễn Thiếp, nhiều lần sai quan lại cao cấp đến mời Nguyễn Thiếp (Năm 1786, Nguyễn Huệ sai hai viên quan cao cấp của bộ Binh và bộ Hình ra mời Nguyễn Thiếp.

Năm 1787, lại hai lần cử quan cao cấp tới mời. Một lần do quan Lưu thủ là Nguyễn Văn Phương đi và một lần do quan Binh bộ Tả Thị lang là Lê Tài đi), sau lại tự mình đến gặp Nguyễn Thiếp.

Và, cảm động trước sự ân cần thật sự chân tình đó, Nguyễn Thiếp đã dốc lòng vì Quang Trung Nguyễn Huệ, vì sự nghiệp cao cả của Tây Sơn.

n4

Phượng Hoàng Trung Đô

Dưới thời Quang Trung, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp là một nhà giáo lớn, một người có công đối với nền giáo dục. Chính ông là Chánh Chủ khảo trong khoa thi Hương đầu tiên của chính quyền Quang Trung tổ chức tại Nghệ An năm 1789 và cũng chính ông là người được Quang Trung tin cậy giao phó cho việc khảo xét tài năng và đức độ của những người mới ra hợp tác với Tây Sơn để làm cơ sở cho việc bổ dụng. Nói tóm lại, nếu Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích là những văn thần được Quang Trung tin cậy ủy thác trông coi các hoạt động ngoại giao, thì La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp là người được Quang Trung tin cậy ủy thác trông coi các hoạt động về văn hóa và giáo dục. Đóng góp của Nguyễn Thiếp thực sự là một phần sự nghiệp của Tây Sơn.

Nhiều thư tịch cổ còn cho biết thêm rằng, Nguyễn Thiếp còn có nhiều ý kiến xuất sắc, có ảnh hưởng khá mạnh mẽ đến những cải cách kinh tế của Quang Trung.

Ngày 25 tháng chạp năm Quý Hợi (nhằm ngày 6-2-1804), La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp qua đời tại quê nhà, hưởng thọ 81 tuổi.

Nguồn: Danh tướng Việt Nam – Tập 3 / Nguyễn Khắc Thuần

Read Full Post »

Ngày 21 tháng 12 năm 1786, tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ nhận được tin báo khẩn cấp của Ngô Văn Sở về việc quân Tây Sơn bỏ Thăng Long rút lui về Tam Điệp. Ngày hôm sau, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lập tức thống lĩnh đại quân Tây Sơn tiến ra Bắc. Khi xuất quân, Quang Trung đã “tính sẵn phương lược” đánh quân thù “Phương lược” đó là hành quân thần tốc để giáng đòn bất ngờ sấm sét tiêu diệt đại quân Thanh. Nước nhà chỉ thật sự độc lập, ta chỉ thật sự làm chủ đất nước, khi không còn bóng dáng một tên xâm lược nào trên lãnh thổ nước ta. Tiêu diệt sạch sành sanh quân thù để “sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.1''

 

Tìm hiểu nghệ thuật đánh tiêu diệt của Quang Trung trong trận đại phá quân Thanh
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn.
Những câu trên đây trích từ lời của Quang Trung hiệu triệu tướng sĩ tại Thanh Hóa nói lên tư tưởng đánh tiêu diệt triệt để của người anh hùng áo vải.
“Phương lược dã được tính sẵn” của Quang Trung, trước hết là đáp ứng với yêu cầu đánh nhanh, thắng nhanh. Vào cuối năm 1788, tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ còn có hai mối lo lớn: nội bộ phong trào Tây Sơn đã có những rạn nứt sâu sắc trong quan hệ giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ : với sự nhìn nhận chiến lược thiển cận và tâm trạng đa nghi, hẹp hòi, Nguyễn Nhạc tỏ ra muốn hạn chế quyền hạn và ảnh hưởng của Nguyễn Huệ. Tính quyết đoán, năng động sôi nổi với tầm nhìn chiến lược rộng rãi sâu sắc của Nguyễn Huệ đã ngày càng làm cho Nguyễn Nhạc lo lắng; mặt khác, thừa cơ Nguyễn Huệ đang bận giải quyết những vấn đề chính trị và quân sự phức tạp ở Đàng Ngoài, trong khi Nguyễn Lữ tỏ ra bất tài, Nguyễn Ánh đã thu thập tàn quân đánh chiếm lại Gia Định. Với tầm nhìn sâu xa của mình, Nguyễn Huệ đã thấy lực lượng của Nguyễn Ánh như là “quân thù” nguy hiểm vì đằng sau chúng còn có những lực lượng “Tây Dương” tức là bọn thực dân Pháp. Phải nói rằng Nguyễn Huệ đã nhận ra rất sớm mối đe dọa của chủ nghĩa thực dân phương Tây thời đó đối với Tổ quốc ta.
Riêng về Bắc Hà, theo sau đại quân Thanh là bè lũ Lê Chiêu Thống có thể tăng cường lực lượng quân ngụy và khôi phục bộ máy cai trị cũ của triều Lê nhằm phục vụ cho quân Thanh. Mặt khác, theo thời gian, đạo quân Thanh có thể tổ chức, xây dựng hệ thống phòng ngự lâm thời của chúng tại Bắc Hà, tạo thành bàn đạp chiến lược để chuẩn bị tiến đánh xuống phía Nam. Triều Thanh dưới quyền thống trị của Kiền Long đang ở vào thời kỳ cường thịnh. Đế quốc Thanh mở rộng biên cương đến tận Ngoại Mông, Tân Cương, Thanh Hải, Tây Tạng. Tiềm lực triều Thanh lớn lao, khí kiêu của Kiền Long ngùn ngụt. Như vậy, để dập nát ý chí xâm lược của kẻ thù, phải đánh những đòn tiêu diệt khiến cho bọn chủ mưu ngự trị tại Yên Kinh phải kinh hồn, bạt vía.
Từ Phú Xuân, tầm nhìn chiến lược của Quang Trung bao quát từ Thăng Long, đến Gia Định, toàn bộ lãnh thổ đất nước ta từ Bắc chí Nam, thấu suốt đến tận Yên Kinh và đến tận phương Tây – nơi xuất phát của chủ nghĩa thực dân đang dòm ngó đất nước ta.
Xét từ bối cảnh tình hình trong nước và ngoài nước vào thời đó, phương lược tiến đánh của Quang Trung phải nhằm giải quyết yêu cầu tiêu diệt triệt để và nhanh chóng quân Thanh xâm lược. Yêu cầu của tình hình thích ứng với sở trường trong thiên tài quân sự Nguyễn Huệ; hai nhân tố này tác động lẫn nhau, tạo nên cơ sở cho kế hoạch tác chiến của Quang Trung nhằm đại phá quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy.
Ngày 15 tháng 1 năm 1789, đại quân Tây Sơn tập kết tại Tam Điệp. So sánh lực lượng lúc ấy, quân Thanh có khoảng 29 vạn; đại quân Tây Sơn (sau khi được bổ sung trên đường hành quân tại Nghệ An, Thanh Hóa) có khoảng 10 vạn. Phía quân Thanh lúc ấy có kỵ binh với hàng vạn ngựa, được trang bị cả pháo đặt trên các bờ lũy, các đồn. Phía quân Tây Sơn được trang bị loại hỏa hổ khá lợi hại và có đoàn voi chiến trên 100 con. Tôn Sĩ Nghị chiếm ưu thế lớn về quân số. Nhưng có những nhược điểm tất yếu của một đạo quân xâm lược: lực lượng bị phân tán trên không gian chiếm đóng, trước hết trên các trục đường giao thông nối liền Thăng Long với hậu phương của chúng; tiếp đấy là bị phân tán trên hệ thống tuyến phòng giữ lâm thời, bị chia thành cụm đóng quân – dù rằng các cụm đó được nối với nhau trong một thế trận liên hoàn có thể tiếp ứng cho nhau. Đã bị phân tán thành cụm thì tất cả mỗi cụm có thể bị tiến công trong khi sự ứng cứu từ các cụm khác chỉ là khả năng và như thế dễ có thể bị tiêu diệt từng cụm một.
Có thể nói, ưu thế về quân số của quân Thanh dã vấp phải mâu thuẫn tập trung và phân tán. Bị nhân dân ta chống cự lại, chúng vừa phải chống giữ cả phía trước mặt lẫn hai bên sườn và phía sau lưng. Các cụm đóng quân của chúng dù không cách xa nhau nhiều nhưng vẫn ở vào thế bị cô lập, chơ vơ, bị các xóm làng của ta bao bọc, chia cắt. Về mặt thế trận bố trí lực lượng, quân Thanh không thể tránh được nhiều kẽ hở, nhiều đoạn yếu để có thể bị đẩy vào thế đối phó bị động khi bị đối phương tiến công vào những khâu sơ hở.
Bên cạnh quân Thanh, còn có đạo quân ngụy của Lê Chiêu Thống với quân số vài vạn tên. Tuy nhiên, đây chỉ là một đạo quân ô hợp, theo đóm ăn tàn, tập hợp từ những tàn quân của họ Trịnh, mang sẵn mặc cảm khiếp sợ quân Tây Sơn. Như vậy, nhìn về thế đất của Tổ quốc, tại khu vực đại quân Thanh chiếm đóng từ thành Thăng Long đến các vùng xung quanh, nhân tố không gian không phải dễ dàng nằm dưới sự chi phối của Tôn Sĩ Nghị. Đúng là tên tướng Thanh có trong tay 20 vạn quân, nhưng số lượng đó bị chia thành từng mảnh để đóng rải trên một khu vực chiếm đóng rộng rãi mà trên thực tế chúng chưa kiểm soát được nhân dân trong vùng, chúng chưa thiết lập được quyền kiểm soát chính trị chặt chẽ.
Về thời gian chiến lược, khi đại quân Tây Sơn đã tập kết tại Tam Điệp thì cũng vừa vào dịp tháng Chạp ta – Tết Kỷ Dậu đã hiện ra trước mắt – Tôn Sĩ Nghị lại vừa chiếm được Thăng Long một cách dễ dàng. Dưới con mắt của các tướng nhà Thanh, đại quân Thanh ở vào thế tiến công, thế của “thiên triều” đem quân đi hỏi tội Nguyễn Huệ; còn về phía Tây Sơn thì bị đặt vào thế kẻ chống đỡ. Tâm lý của phía quân Thanh từ tướng tổng chỉ huy đến các binh sĩ thường là tận hưởng các lạc thú trên đất bị chiếm đóng mà chúng có quyền tự do vơ vét của cải, bắt người phục dịch. Chính vì thế, một mặt, phía quân xâm lược bao giờ cũng muốn đánh nhanh thắng nhanh, nhưng vào thời điểm cụ thể này, chịu tác động của phong tục tập quán đối với tâm lý, một tên tướng như Tôn Sĩ Nghị, vừa không phải là một danh tướng, vốn lại là tổng đốc Lưỡng Quảng tất nghĩ đến việc cho đại quân Thanh nghỉ ngơi ăn Tết linh đình đẻ rồi sau Tết sẽ xuất quân. Khi tên Việt gian Lê Quýnh xin tiến quân nhanh, Tôn Sĩ Nghị dã hóm hỉnh trả lời: “Việc gì mà phải vội vã như vậy ? Ví như thò tay lấy đồ vật ở trong túi, đến sớm thì lấy sớm, đến muộn thì lấy muộn đó mà thôi. Bây giờ đã sắp hết năm, đại quân xa xôi đến đây, cần phải nghỉ ngơi không nên đánh vội”.
Thế là Tôn Sĩ Nghị đã để yếu tố thời gian chiến lược tuột khỏi tay mình, chuyển thời gian tác chiến thành thời gian hưởng thụ cho toàn đại quân Thanh. Từ ngày tiễn táo quân, tướng và binh sĩ Thanh đã “ngày càng chơi bời, tiệc tùng, không để ý gì đến việc quân… mặc cho quân lính các đồn tự tiện bỏ cả đội ngũ đi lại lang thang không còn có kỷ luật gì cả”, còn bọn bù nhìn Lê Chiêu Thống thì “làm lễ phong ấn” (tức là cái ấn nghỉ việc ăn Tết) vào ngày 25 tháng Chạp âm lịch, các quan cùng quân lính cũng đều cho phép nghỉ mười ngày để cùng vui xuân
Thế là về phía quân Thanh, nhân tố thời đã chi phối chặt chẽ hai nhân tố lực và thế.
Về thế, các cụm quân co lại trong vòng doanh trại, châu đầu trong các bàn tiệc, bãi cờ bạc dễ say sưa, tổ chức bị xé lẻ thành những cá nhân say sưa lúy túy, “ngọn cờ nghiiêng ngả, trống canh trễ tràng”. Khói pháo, men rượu, máu mê bài bạc đã làm cho quân Thanh rệu rã cả về tinh thần, thể xác lẫn đội ngũ. Thế trận của chúng co lại, dễ trở thành đứt đoạn và chơi vơi từng quãng, từng cụm.
Với đại quân Thanh, ba yếu tố lực, thế, thời không được kết hợp với nhau mà chống đối lại nhau trong bối cảnh chiến lược được tạo ra từ những điều kiện khách quan đến những quyết định và hành động chủ quan của phía Tôn Sĩ Nghị.
Ở đây, yếu tố thời trong những ngày Tét Kỷ Dậu nổi bật lên như một tử huyệt của đại quân Thanh. Nếu vào những ngày thường, khi một nơi nào trong tuyến phòng thủ của quân Thanh bị tiến công, các nơi khác có thể bị đánh động nhanh chóng và có thể được điều động để ứng cứu kịp thời thì, vào những ngày Tết, toàn bộ lực lượng quân Thanh lại cùng lâm vào “cơn say” Tết, không ở vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu để có thể phản ứng nhanh chóng và nhạy bén. Cái thế trận mà Tôn Sĩ Nghị đã bỏ nhiều công phu xây dựng từ vòng đai chung quanh Thăng Long đến sông Gián Khẩu không là chỗ dựa vững chắc cho lực lượng đại quân Thanh mà lại phơi bày những chỗ yếu, những sơ hở chí tử của chúng.
Tất cả những yếu tố chiến lược trên đây đã nằm gọn trong “phương lược đã được tính sẵn” tức là: trong những tính toán chiến lược của Quang Trung ngay từ khi xuất quân tại Phú Xuân, đã được hoàn chỉnh dần trên đường hành quân đến Tam Điệp qua những tin tức được thu thập kịp thời và tài quan sát nhạy bén. Sự đánh giá tình hình đúng đắn, chính xác của Quang Trung về tương quan địch, ta khi người anh hùng áo vải đã đến Tam Điệp là cơ sở cho kế hoạch tác chiến tài tình của ông nhằm tiêu diệt gọn đại quân Thanh trong thời điểm những ngày Tết Kỷ Dậu.
Nhằm thực hiện mục tiêu tiêu diệt toàn bộ đại quân Thanh trong một thời gian ngắn vài ngày, Quang Trung giành lấy hai nhân tố không gian và thời gian chiến lược về phía mình, tạo thành lợi thế, nâng sức mạnh của phía Tây Sơn lên gấp bội, đẩy sức mạnh của phía quân Thanh tụt xuống nhiều lần, chuyển hóa tương quan lực lượng có lợi về phía Tây Sơn, qua một kế hoạch tác chiến vượt xa khả năng dự toán thiển cận của Tôn Sĩ Nghị.
Quang Trung chia đạo quân làm 5 đạo, với những nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Đạo quân chủ lực đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu do Quang Trung trực tiếp chỉ huy, gồm có bộ binh, tượng binh, kỵ binh với Đại tư mã Ngô Văn Sở, Nội hầu Phan Văn Lân chỉ huy Tiên phong, Hám hổ hầu Chiêu Viễn tướng quân là người đã từng chiêu tập hàng vạn tân binh ở Thanh Nghệ, đốc xuất hậu quân làm đốc chiến. Đạo quân chủ lực này là cánh chính binh đánh thẳng vô mặt vào mặt trận chính của quân Thanh trên dường phía Nam kinh thành Thăng Long.
- Đạo quân thứ hai do Đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy được xem là cánh kỳ binh, lực lượng tuy không nhiều nhưng cơ động nhanh chóng, thực hiện cách đánh tạt ngang sườn. Từ Tam Điệp, đạo quân này hành quân theo đường thượng đạo, từ Nho Quan, xuyên qua Mỹ Đức (Hà Tây), đến Nhân Mục (Mọc, nay thuộc huyện Từ Liêm – Hà Nội) để bất ngờ ập xuống bao vây tiêu diệt đạo quân Sầm Nghi Đống đóng ở Đống Đa, ra qua cửa Tây Nam (Ô chợ Dừa – Đống Đa, Hà Nội) thọc sâu vào tận cung Tây Long, chỉ huy sở của Tôn Sĩ Nghị bên bờ sông Hồng.
Đạo quân thứ ba do Đô đốc Bảo chỉ huy, đi theo đường Sơn Minh (huyện Ứng Hòa, Hà Tây) ra làng Đại Áng, phía Tây Nam đồn Ngọc Hồi, để phối hợp với đạo quân chủ lực, tiến công Ngọc Hồi.
Đạo quân thứ tư là đạo quân thủy do Đô đốc Tuyết chỉ huy, có nhiệm vụ vượt biển tiến vào sông Lục Đầu, tiêu diệt quân cần vương của Lê Chiêu Thống ở Hải Dương rồi tiến lên uy hiếp sườn phía Đông của đại quân Thanh đóng tại Thăng Long.
Đạo quân thứ năm do Đô đốc Lộc chỉ huy, cũng theo đường thủy tiến vào sông Lục Đầu rồi tiến đến các hạt Phượng Nhãn, Lạng Giang, Yên Thế để chặn đường chạy về của quân Thanh. Quang Trung đã tính toán: “Người Thanh nghe tin ta ra Bắc, tất sẽ tập trung hết quân tinh nhuệ xuống phía Nam giữ Thượng Phúc, Phú Xuyên, còn một dải Kinh Bắc phòng ngự ắt yếu. Ta sẽ xuất kỳ bất ý chia quân chẹn ở Thái (Nguyên) Lạng (Sơn)”.
Cách bố trí thế trận tác chiến như trên biểu lộ rõ rệt ý định của Quang Trung. Tiêu diệt triệt để toàn bộ đại quân Thanh trong một trận quyết chiến chiến lược. Lợi dụng thời cơ dịp tết Kỷ Dậu, phát hiện những sơ hở trong tuyến phòng thủ của địch, Quang Trung tập trung lực lượng giáng đòn sấm sét bất ngờ vào khâu then chốt trong hệ thống phòng thủ của địch tức là đồn Ngọc Hồi, đồng thời tung đạo kỳ binh lợi hại điểm thẳng vào tử huyệt của đại quân Thanh tức là đồn Khương Thượng dẫn đến cung Tây Long, chỉ huy sở của Tôn Sĩ Nghị.
Sau khi đã hình thành thế bao vây chặt chẽ các mặt, Quang Trung đã quyết tâm tiêu diệt sạch sành sanh cánh quân Thanh do Hứa Thế Hanh chỉ huy.
Ở đây, nổi bật lên cách đánh linh hoạt tài tình của Quang Trung. Với những động tác chuẩn bị và tính toán kỹ lưỡng, đạo quân chủ lực do Quang Trung đích thân chỉ huy đã đột phá mãnh liệt vào đồn Ngọc Hồi. Trong đợt đột phá này, ông đã kết hợp voi chiến, hỏa hổ với những tấm mộc quấn các bện rơm tẩm ướt che chở cho các đội dũng sĩ xung kích khi tiếp cận; dùng sức mạnh lợi hại của công cụ đánh thành kết hợp với tinh thần dũng cảm vô song của quân Tây Sơn. Sự xuất hiện của quân Tây Sơn làm cho quân Thanh tại đồn Ngọc Hồi khiếp đảm. Đó chính là lúc bọn chúng vừa hoang mang trước sự xuất hiện bất ngờ của đại quân Tây Sơn vừa kinh hoàng rệu rã trong tình trạng nửa tỉnh nửa say của cuộc truy hoan Tết Kỷ Dậu. Quả đấm thôi sơn đó đủ sức đập nát vụn một quãng lũy che chở đồn Ngọc Hồi để cho đạo quân chủ lực Tây Sơn ào ào xông qua đột phá khẩu, tràn vào đồn như nước lũ. Chỉ còn giày xéo lên nhau mà chạy cũng đủ làm cho một bộ phận của quân Thanh trong đồn Ngọc Hồi mất mạng.
Xét về tương quan lực lượng hai bên thì tổng quân số quân Thanh tại khu vực Thăng Long là khoảng 29 vạn, còn đại quân Tây Sơn do Quang Trung thống lĩnh chỉ khoảng 10 vạn. Riêng trong trận Ngọc Hồi, cánh quân chủ lực do Quang Trung đích thân chỉ huy cộng với cánh quân do Đô đốc Bảo chỉ huy có quân số khoảng từ 6 đến 7 vạn trong khi cánh quân của Hứa Thế Hanh tại Ngọc Hồi có quân số khoảng 3 vạn. Thế là so về tổng quân số, phía ta chỉ bằng 1 phần 3 địch nhưng tại điểm mà phía ta chọn làm điểm quyết chiến, quân số của ta gấp đôi phía địch, cộng với các yếu tố bất ngờ, tinh thần dũng cảm, tài trí chiến đấu, tính lợi hại của phương tiện chiến đấu như voi chiến, hỏa hổ v.v… ưu thế về quân số trên đây lại được nhân lên gấp bội. Quang Trung đã thực hiện tài tình nguyên tắc tập trung lực lượng để thực hiện mục tiêu đánh tiêu diệt. Tiến công mãnh liệt ở chính diện đồng thời mở sẵn cho quân địch một con đường thoát dẫn chúng đến một cái bẫy đã được chuẩn bị từ trước để chờ chúng, là Đầm Mực do Đô đốc Bảo chỉ huy, Quang Trung đã bày bố một thế trận kỳ diệu để nắm vững quyền chủ động điều địch từ đầu đến khi kết thúc trận đánh. Trong trận Ngọc Hồi, để thực hiện cách đánh tiêu diệt sạch sành sanh quân địch, các yếu tố tiến công bất ngờ, đột phá mãnh liệt, bao vây nhiều vòng từ vòng trong hẹp đến đến vòng ngoài rộng, điều động địch hành động theo đúng ý định ta đã ăn khớp với nhau nhịp nhàng theo đúng như sự sắp xếp, bài binh bố trận của Quang Trung. Như vậy là, ngay từ trận Ngọc Hồi, Quang Trung đã thực hiện được nghệ thuật hành binh cơ động thần tốc để tạo ra bất ngờ. Trong bất ngờ, thực hiện tiến công mãnh liệt làm cho kẻ thù càng bất ngờ thêm, bố trí thế trận bao vây nhiều vòng khiến cho khi quân địch chưa kịp hoàn hồn trong khi phải chống đối với sức tiến công mãnh liệt của ta lại càng bất ngờ thêm nữa. Bất ngờ trước làm tiền đề và điều kiện để tạo ra bất ngờ sau, khiến cho kẻ thù lâm vào tình trạng hoảng loạn, rụng rời liên miên từ sau từ những tiếng hò reo vang dậy và tiếng trống thúc xung trận đầu tiên. Bất ngờ tiến công mãnh liệt, bao vây chặt chẽ dẫn đến tiêu diệt hoàn toàn kẻ thù, thật là những yếu tố tiêu biểu trong nghệ thuật quân sự của Quang Trung.
Nếu cuộc tiến công đồn Ngọc Hồi diễn ra ồ ạt như cơn lốc gây bất ngờ hoang mang tột độ cho kẻ địch thì việc cánh kỳ binh do Đô đốc Đặng Tiến Đông tiêu diệt đồn Khương Thượng lại là tiếng sét đánh ngang tai Tôn Sĩ Nghị, khiến cho hắn chỉ kịp than mấy tiếng: “Thật như tướng từ trên trời rơi xuống, binh từ dưới đất chui lên”, để rồi “Người chưa kịp mặt áo giáp, ngựa chưa kịp đặt yên”, cùng vài tên tùy tùng chạy qua cầu phao sang bên kia bờ sông Hồng, rồi sai chặt đứt cầu phao bỏ rơi lại đám tàn quân và hàng nghìn tên chết đuối.
 2'
Trong số 29 vạn quân Thanh, chỉ còn lại vài nghìn tên chạy được về nước. Như thế, toàn bộ đạo quân Thanh sang xâm lược nước ta đã bị tiêu diệt gọn trong những trận đánh thực sự chỉ diễn ra trong vòng hơn hai ngày: mồng ba, mồng bốn và sáng mồng năm Tết Kỷ Dậu. Quả thật, đây là một trong những trận đánh tiêu diệt kỳ diệu trong lịch sử chiến tranh trên thế giới.
Mục tiêu đánh tiêu diệt của Quang Trung không chỉ nhằm tiêu diệt đạo quân xâm lược, kết thúc cuộc chiến tranh đang diễn ra mà còn nhằm lập lại hòa bình lâu dài giữa hai nước, Quang Trung đã đánh một trận để
Sửa hòa hiếu giữa hai nước,
Tắt muôn đời chiến tranh.
Cảnh tượng cả một đạo quân hùng hậu của “thiên triều” bị tiêu diệt trong chớp nhoáng chỉ bằng một đòn sấm sét của đối phương tất làm cho cả triều đình nhà Thanh kinh hoàng. Ý chí xâm lược của một Hoàng đế Trung Hoa kiệt hiệt như Kiền Long bị bẻ gãy. Chịu tác động mạnh mẽ của hai nhân tố lực lượng và ý chí trên đây, cách xử sự hợp lý của Kiền Long là bãi binh và nối lại bang giao bình thường với nước ta.
Kết thúc thắng lợi chiến tranh bằng tiêu diệt triệt để quân địch trên chiến trường cũng là mở đầu cho những thắng lợi tiếp theo về ngoại giao. Sau đó Kiền Long tỏ ra rất tôn trọng Quang Trung. Thiên tài của Quang Trung thật toàn diện. Ngay trước khi ra lệnh cho đại quân Tây Sơn vượt sông Gián Khẩu vào đêm 30 Tết, Quang Trung đã ra lệnh cho Ngô Thì Nhậm chuẩn bị sẵn các văn kiện ngoại giao để sau chiến thắng sẽ gửi cho Kiền Long, mở ra cho tên Hoàng đế Trung Hoa một con đường thoát khỏi bế tắc về sĩ diện.
Chính vì đại quân Thanh “nhất luân bất phản, phiến giáp bất hoàn” nên Kiền Long mới tiếp một Quang Trung “giả” tại Yên Kinh với đầy đủ nghi lễ long trọng. Và từ đấy, quan hệ bình thường đã diễn ra giữa hai nước trong hàng trăm năm sau./.
Nhuận Vũ

Read Full Post »

Older Posts »

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.