Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for Tháng Năm, 2012

Ươn hèn

Xốn xang day dứt nỗi buồn
Non vợ chồng hờ nhân ngãi
Đối lòng sao còn ngần ngại
phôi phai lặng chết tàn hôn

lá vàng trôi theo dòng suối
ái tình lừa lọc trò chơi
điểu tàn cánh cung rã rợi
mặc cho gió lộng sương phơi
.
Cuộc đời ngụp lặn gió mưa
ngục tù không ai ân xá
một lần lạc đường vấp ngã
cớ sao như vướng phải bùa

sợ hãi không còn dám ghét
trại giam không lối ra vào
tắt tiếng không còn biết thét
hãi hùng cuồng bạo búa dao

Còn tôi ươn hèn thúc thủ
vùi đầu lạc chốn mê cung
xót tình hay vô tích sự
chôn em huyệt mộ nghìn trùng

Read Full Post »

Thông báo

Lớp TCTH39ABCDE nghỉ học Lý thuyết và Thực hành từ 21 tháng 5 năm 2012 đến ngày 2 tháng 6 năm 2012

Lý do Học Giáo Dục thể chất và quân Sự

Read Full Post »

Lời ru của mẹ

Hồn nhiên một mặt trời con
Lung linh sáng-môi hồng son mơ nào
Ngủ đi con thật ngọt ngào
Lời ru ngọt sữa ước ao trong lòng
Luân hồi gian khổ qua vòng
Trầm luân kiếp nạn chất chồng phôi phai
Con-Bình minh rạng sớm mai
Đau thương khốc lụy ngày dài sẽ xa
Không còn ngụp lặn ao nhà
Vươn ra biển lớn để mà tròn mơ
Hào hùng câu chữ lời thơ
Tìm ra chân lý thời cơ vươn mình
Không gục đầu mãi lặng thinh
Đeo gông ràng buộc để mình héo hon
Ước mơ đời mẹ là con
Đạp bằng gian khó sắc son vươn mình

Read Full Post »

Trong cuộc đời chiến đấu của mình, Nguyễn Huệ có ba lần ra Thăng Long với thời gian rất ngắn nhưng để lại dấu ấn rất sâu đậm trong ký ức và tình cảm của nhân dân kinh thành
Lần thứ nhất vào giữa năm 1786. Lúc bấy giờ nghĩa quân Tây Sơn đã đánh bại chính quyền chúa Nguyễn, đập tan cuộc xâm lược của quân Xiêm và kiểm soát vùng đất từQuảng Nam trở vào. Thành Phú Xuân và đất Thuận Hóa do quân Trịnh chiếm đóng.

Tháng 6 năm 1786, Nguyễn Huệ được lệnh của Nguyễn Nhạc đem quân ra giải phóng

vùng đất phía bắc Đàng Ngoài cho đến sông Gianh và củng cố hệ thống thành lũy phòng

vệ ở đây. Quân Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ đã nhanh chóng chiếm lại Phú Xuân và tiến ra bờ nam sông Gianh. Tại đây, sau khi nghiên cứu kỹ tình hình Đàng Ngoài, ông đã quyết định tiếp tục phát triển phong trào Tây Sơn ra bắc, lật đổ chế độ chúa Trịnh. Đó là một quyết định mang tính lịch sử chứng tỏ tầm mắt nhìn xa thấy rộng và tấm lòng yêu nước thương dân, ý chí thống nhất giang sơn mạnh mẽ của Nguyễn Huệ.Bài Hịch xuất quân đánh Trịnh cho thấy rõ suy tính và tư tưởng của ông:
“Quảng Nam đã quét sạch bụi trần,
Thuận Hóa lại đem về bờ cõi.
Nam: một giải tăm kình phẳng lặng, cơ thái bình đứng đợi đã gần,
Bắc: mấy thành tin nhạn chưa yên, bề cứu viện ngồi trông sao tiện.
Vả bấy nay, thần nịnh chúa hôn, mở bình trị lòng người hẳn muốn,
Lại gặp hội binh kiêu dân oán, sửa mối giềng tài cả phải ra”.
Từ giới tuyến chia cắt đã kéo dài trên 200 năm, lệnh xuất quân của chủ soái Tây Sơn biểu thị quyết tâm và niềm tin sắt đá:
“Chước vạn toàn đã tạc đá Hoành Sơn,
Binh tức khắc lại giương buồm Bắc Hải”.
Chỉ trong khoảng 10 ngày, quân đội Tây Sơn dưới danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh” đã đánh tan toàn bộ quân Trịnh, lật đổ nền thống trị của chúa Trịnh. Ngày 21-7-1786,Nguyễn Huệ dẫn đại quân vào Thăng Long và đặt chỉ huy sở ở phủ chúa Trịnh. Nguyễn Huệ đến yết kiến vua Lê Hiển Tông và ngày 30-7, lễ triều kiến chính thức được tổ chức trọng thể tại điện Kính Thiên, tuyên bố công cuộc phù Lê của quân đội Tây Sơn. Sau đó, vua Lê Hiển Tông ban bố Chiếu thư nhất thống, đem niêm yết tại cửa Đại Hưng. Vua Lê phong Nguyễn Huệ làm Nguyên súy Phù chính Dục vũ Uy quốc công và đem công chúa Ngọc Hân gả cho chủ soái Tây Sơn. Ngày 4-8-1786 kinh thành Thăng Long chứng kiến đám cưới của vị anh hùng “áo vải cờ đào” với một công chúa cành vàng lá ngọc. Sau đó, vua Lê Hiển Tông bị ốm nặng và từ trần ở tuổi 70, hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên ngôi, tức vua Lê Chiêu Thống.
Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn được tin cấp báo rằng Nguyễn Huệ đã tự đem quân ra Đàng Ngoài và đã chiếm giữ thành Thăng Long, vội vàng ra Bắc và rồi đêm 5-9-1786 cùng em rút quân về Nam. Như vậy là trong cuộc tiến quân ra bắc lần thứ nhất vào giữa năm 1786,Nguyễn Huệ đã chấm dứt tình trạng phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài, bước đầu thống nhất đất nước và phế bỏ chế độ chúa Trịnh. Thời gian Nguyễn Huệ lưu lại ở Thăng Long chỉ 45 ngày, nhưng đã làm đảo lộn cả trật tự kinh thành và để lại những sự kiện làm kinh ngạc mọi người dân ở đây.
Do sự bất lực của Lê Chiêu Thống, các thế lực chúa Trịnh và quân phiệt lại trỗi dậy, tình hình Thăng Long, Bắc Hà lại lâm vào tình trạng rối loạn và Nguyễn Hữu Chỉnh thâu tóm mọi quyền hành. Phủ chúa Trịnh xây dựng bên bờ phía tây hồ Hoàn Kiếm là một quần thể kiến trúc gồm 52 cung điện lớn, đã bị Lê Chiêu Thống sai người phóng hỏa đốt phá “khói lửa bốc lên ngút trời, hơn mười ngày chưa tắt, thế là một khu lâu đài cung khuyết hơn hai trăm năm trời thành bãi đất cháy sém” (Hoàng Lê nhất thống chí). Cuối năm 1787, Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm cùng Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân đem quân ra Bắc lần thứ hai diệt trừ Nguyễn Hữu Chỉnh. Lê Chiêu Thống bỏ trốn và Sùng Nhượng công Lê Duy Cẩn được lập làm giám quốc trông nom việc nước. Nhưng rồi Vũ Văn Nhậm có ý chuyên quyền nên mùa hè năm 1788, Nguyễn Huệ đem quân ra Thăng Long lần thứ ba diệt trừ Vũ Văn Nhậm. Lần này, Nguyễn Huệ lo sắp xếp lại bộ máy chính quyền, ổn định tình hình Bắc Hà. Nhiều sĩ phu tiến bộ của Thăng Long và Bắc Hà đã tự nguyện theo Tây Sơn phò tá Nguyễn Huệ như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Trần Bá Lãm, Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn… Ảnh hưởng của Tây Sơn và uy tín của Nguyễn Huệ đã thấm vào các tầng lớp xã hội của đất kinh thành và làm thức tỉnh một số trí thức Bắc Hà.
Cuối năm 1788, lợi dụng sự cầu cứu của Lê Chiêu Thống, nhà Thanh cử Tôn Sĩ Nghị làm thống soái chỉ huy 29 vạn quân Thanh xâm lược Đại Việt và chiếm đóng kinh thành Thăng Long. Thực hiện chủ trương của Ngô Thì Nhậm “nay ta toàn quân rút lui, không bị mất một mũi tên, cho chúng ngủ trọ một đêm rồi lại đuổi chúng đi” (Hoàng Lê nhất thống chí), quân Tây Sơn rút về giữ Tam Điệp – Biện Sơn và cho người cấp tốc về Phú Xuân phi báo cho Nguyễn Huệ biết. Tối ngày 17-12-1788, quân Thanh vượt sông Nhị tiến vào chiếm giữ thành Thăng Long. Nhân dân kinh thành trải qua những ngày tháng đau thương, chứng kiến những tội ác của quân xâm lược và hành động bán nước của bè lũ vua tôi Lê Chiêu Thống.
Ngày 24-11 năm Mậu Thân (21-12-1788), tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ nhận được tin cấp báo, ngày hôm sau làm lễ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung rồi lập tức ra lệnh xuất quân, lên đường ra Bắc diệt giặc.
Sau khi tập kết đại quân ở Tam Điệp – Biện Sơn, đúng đêm giao thừa Tết Kỷ Dậu (25-l-1789), cuộc tấn công đại phá quân Thanh của quân Tây Sơn bắt đầu. Đạo quân chủ lực do Quang Trung trực tiếp chỉ huy đánh thẳng vào hệ thống phòng thủ của quân Thanh ở phía nam thành Thăng Long, trong đó đồn Ngọc Hồi giữ vị trí then chốt. Mờ sáng ngày 5 Tết Kỷ Dậu (30-l-1789), quân Tây Sơn mở cuộc công phá đồn Ngọc Hồi. Cùng lúc đó, một đạo quân Tây Sơn khác theo đường “thượng đạo” qua Chương Mỹ (Hà Tây), tiến về Nhân Mục (phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân) rồi bất ngờ công phá đồn Đống Đa ở phía tây nam thành Thăng Long và thừa thắng thọc sâu vào đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long bên bờ sông Nhị. Hai mũi “chính binh” và “kỳ binh” của Quang Trung tạo thành một thế trận hết sức lợi hại cùng với sức tấn công thần tốc, vũ bão của quân Tây Sơn khiến cho hệ thống phòng ngự của quân Thanh bị sụp đổ tan tành và Tôn Sĩ Nghị “không còn hồn vía nào nữa, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp, dẫn bọn lính kỵ mã dưới trướng vượt qua cầu phao rồi nhằm hướng bắc mà chạy”
(Hoàng Lê nhất thống chí). Quân Thanh đại bại, một bộ phận bị tiêu diệt, số còn lại tháo chạy trong cảnh hỗn loạn, “đói cơm khát nước, không kiếm đâu ra được ăn uống, cứ phải đi suốt bảy ngày bảy đêm mới đến trấn Nam Quan” (An Nam quân doanh kỷ yếu)
.
Trưa ngày 5 Tết, Quang Trung trong bộ chiến bào sạm màu thuốc súng, ngồi trên mình voi chiến, tiến vào thành Thăng Long giữa sự nô nức đón chào của nhân dân kinh thành như nhà thơ Ngô Ngọc Du đã ghi lại trong bài thơ Long Thành quang phục kỷ thực:
Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến,
Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh.
Mây tạnh mù tan trời lại sáng,
Đầy thành già trẻ mặt như hoa,
Chen vai thích cánh cùng nhau nói:
“Cố đô vẫn thuộc núi sông ta”.
Trong chiến công vang lừng của mùa xuân Kỷ Dậu, nhân dân Thăng Long đã có nhiều đóng góp tích cực tạo nên kỳ tích đại phá quân Thanh. Nhân dân vùng Ngọc Hồi đã đem những tấm phản, cánh cửa để quân Tây Sơn ghép lại những tấm mộc chắn tên đạn khi công phá đồn Ngọc Hồi. Nhân dân sáu làng xã vùng Khương Thượng – Đống Đa dùng rơm rạ bện thành hình rồng, tẩm chất cháy, đốt lửa tạo thành “trận rồng lửa” uy hiếp quân giặc trong đồn Đống Đa… Ngày nay trên đất Hà Nội còn lưu giữ lại biết bao di tích, địa danh gắn liền với chiến công xuân Kỷ Dậu và hàng năm, vào ngày 5 Tết, nhân dân cử hành lễ hội Đống Đa để tôn vinh anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ và tưởng niệm những người đã hi sinh vì độc lập dân tộc, vì sự nghiệp giải phóng kinh thành.
GS. Phan Huy Lê
( )
( )
1 Kiên Mỹ ấp địa bạ, Trung tâm lưu trữ quốc gia I, ký hiệu F67.
 2 Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam liệt truyện. NXB Thuận Hóa, Huế 1993, T.II,tr.491.
3 Tây Sơn thuật lược.
4 Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, Q.30 (Ngụy Tây)
( )
( )

 

Read Full Post »

GS Phan Huy Lê
Nguyễn Huệ: Sinh năm 1753, mất ngày 16 tháng 9 năm 1792.
Cuộc đời chỉ có 39 tuổi xuân. Nhưng 21 năm cuối của cuộc đời ấy từ tuổi 18 đến tuổi 39 (1771 – 1792), là cả một bản anh hùng ca tiêu biểu cho khí phách và sức mạnh của dân tộc trong một thời kỳ bão táp của lịch sử.
Đây là những mốc lớn trong sự nghiệp anh hùng của Nguyễn Huệ:
- Năm 1771, 18 tuổi, cùng với anh là Nguyễn Nhạc phất cờ khởi nghĩa, xây dựng căn cứđầu tiên ở Tây Sơn thượng đạo.
- Từ năm 1773 đến năm 1783, với chức vụ Tây Sơn hiệu Tiền phong tướng quân rồi Phụ chính, rồi Long Nhượng tướng quân trong bộ chỉ huy nghĩa quân, đã lập nhiều chiến công oanh liệt trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đó là trận Phú Yên năm 1775 – 22 tuổi, các trận tiến công vào Gia Định năm 1777 – 24 tuổi, năm 1782 – 29 tuổi, năm 1783 – 30 tuổi.
- Năm 1785, 32 tuổi, lãnh đạo cuộc phản công chiến lược quét sạch 5 vạn quân xâm lượcXiêm ra khỏi Gia Định, lập nên chiến công Rạch Gầm – Xoài Mút nổi tiếng, trong một ngày tiêu diệt gần 4 vạn quân Xiêm cùng hàng ngàn quân Nguyễn Ánh.
- Năm 1786, 33 tuổi, chỉ huy cuộc tiến công ra Đàng Ngoài, phế bỏ chế độ vua Lê chúa Trịnh, chấm dứt tình trạng chia cắt kéo dài trên hai thế kỷ, bước đầu lập lại nền thống
nhất quốc gia.
Năm 1789, 36 tuổi, với cương vị Hoàng đế Quang Trung, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Thanh, đại phá 29 vạn quân xâm lược Thanh cùng vài vạn quân Lê Chiêu Thống, lập nên chiến công Ngọc Hồi – Đống Đa vang dội. Riêng trong trận quyết chiến chiến lược này, dưới sự chỉ huy của Quang Trung, quân Tây Sơn đã tiêu diệt khoảng 5 vạn quân Thanh trong buổi sáng ngày 5 tết Kỷ Dậu (ngày 30-l-1789). “Trẫm trỏ cờ lệnh, chỉ trong một trận, quét sạch lũ các ngươi như kiến cỏ. Thua một trận, lũ các ngươi bị chết và bị thương hàng vạn”. Đó là lời tuyên bố của Quang Trung trong một tờ chiếu gửi bọn tù binh quân Thanh ngay sau khi cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi.
- Sau khi thù trong giặc ngoài đã bị đánh bại về cơ bản, Quang Trung lo tập trung mọi nỗ lực của chính quyền mới vào công cuộc xây dựng lại đất nước. Trước hết Quang Trung chủ trương nhanh chóng lập lại quan hệ bang giao với nhà Thanh rồi ban hành nhiều chính sách tích cực nhằm phục hồi nông nghiệp, phát triển kinh tế hàng hóa và mở mang giáo dục, văn hóa. Chiếu khuyến nông và Chiếu lập học là hai văn bản nhà nước thể hiện rõ nhận thức và những giải pháp bức xúc của Quang Trung trên hai lĩnh vực trọng yếu này. Đồng thời Quang Trung cũng rất coi trọng việc củng cố quốc phòng và trấn áp các thế lực chống đối ở trong nước. Năm 1791, một âm mưu chống phá của Lê Duy Chỉ ở Cao Bằng được phong kiến Xiêm và Nguyễn Ánh hỗ trợ bị đập tan. Năm 1792, Quang Trung chuẩn bị một cuộc tấn công lớn vào Gia Định nhằm tiêu diệt thế lực Nguyễn Ánh được tư bản Pháp ủng hộ mà ông coi là “cái thây ma Gia Định” và tuyên bố “đánh bại quân giặc dễ như bẻ gãy cành khô củi mục”, thu hồi lại các vùng đất phía nam “trong nháy mắt” (Hịch gửi quan lại và quân dân hai phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn). Ngày 10-7 năm Quang Trung thứ 5 (27-8- 1792), Quang Trung đã truyền hịch kêu gọi nhân dân hai phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn tham gia, hưởng ứng cuộc tiến công qui mô lớn này, nhưng chiến dịch chưa kịp thực hiện thì ngày 29-7 năm đó (giờ tý tức nửa đêm ngày 15 sang ngày 16 tháng 9 năm 1792) Quang Trung từ trần đột ngột. Thời gian canh tân dựng nước quá ngắn ngủi (1789- 1792) nên sự nghiệp của người anh hùng đành dang dở, để lại một tổn thất lớn lao cho lịch sử Tây Sơn và cho cả dân tộc.
Người khởi xướng và thủ lĩnh đầu tiên của khởi nghĩa Tây Sơn là Nguyễn Nhạc. Nhưng nhìn toàn bộ lịch sử Tây Sơn thì Nguyễn Huệ là người thủ lĩnh kiệt xuất nhất của phong trào Tây Sơn, tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với quá trình phát triển và thắng lợi của phong trào nông dân và dân tộc rộng lớn đó. Nguyễn Huệ đã đưa phong trào Tây Sơn vượt qua mọi gian nguy, thử thách, đạt đến đỉnh thắng lợi cao nhất của một phong trào nông dân – phong trào dân tộc trong bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XVIII của đất nước. Từ một anh hùng nông dân, Nguyễn Huệ đã trở thành một anh hùng dân tộc có công lớn trong sự nghiệp thống nhất đất nước và bảo vệ độc lập dân tộc.
Quang Trung – Nguyễn Huệ trước hết là một nhà quân sự thiên tài. Cả cuộc đời chiến đấuđánh bại biết bao thù trong giặc ngoài, người anh hùng đó chỉ có thắng, chưa hề thua.Trong bài hịch gửi hai phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi năm 1792, Quang Trung đã từng tự hào nhắc lại những chiến công nối tiếp chiến công: “Nơi đâu ta đã kéo quân đến là kẻ thù đều bị đánh cho thất bại và tan tác. Nơi đâu ta đã mở rộng chinh chiến là quân Xiêm và quân Thanh tàn bạo đều phải quy hàng. Về phận cái triều đình cũ còn rơi rớt kia (chỉ
Nguyễn Ánh) thì từ hơn ba mươi năm nay, ta chưa hề thấy chúng làm được điều gì hay.Trong hơn năm trận giao tranh với ta, binh lính của chúng đều đã bị đánh cho tan tác, tướng tá của chúng đều bị giết chết, đất Gia Định đã đầy rẫy xương khô của bọn chúng.Các người đã từng được chứng kiến những điều ta nói, nếu chưa được nhìn tận mắt thì ít ra cũng được nghe tận tai rồi”.
Phát huy sức mạnh quật khởi của nông dân kết hợp với sức mạnh yêu nước đoàn kết của cả dân tộc, Quang Trung Nguyễn Huệ đã đưa phong trào Tây Sơn đến những đỉnh thắng lợi cao nhất trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó và phát triển nghệ thuật quân sự truyền thống của nước ta lên một trình độ mới. Nét nổi bật nhất trong nghệ thuật quân sự của Quang Trung Nguyễn Huệ là tinh thần tiến công liên tục mãnh liệt và lối đánh hết sức thần tốc bất ngờ. Chính đối phương cũng phải thừa nhận, quân Tây Sơn “hành binh như bay, tiến quân rất gấp… đi lại mau chóng vùn vụt như thần, chống không thể được, đuổi không thể kịp” và “ẩn hiện như quỷ thần, tướng như trên trời rơi xuống, quân như dưới đất chui lên” (Hoàng Lê nhất thống chí).
Cũng như các anh hùng dân tộc khác của ta, Nguyễn Huệ không chỉ là một thiên tài quân sự đơn thuần. Sự nghiệp và tài năng của Nguyễn Huệ còn bao quát nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao.
Trong khởi nghĩa, Nguyễn Huệ thực hiện khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo” để cổ vũ và tập hợp đông đảo quần chúng nông dân nghèo khổ. Khi tiến quân ra Bắc Hà, ông nêu danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh” để phân hóa và cô lập kẻ thù. Sau khi chính quyền mới được thành lập, Quang Trung đề ra hàng loạt chính sách và biện pháp tích cực nhằm canh tân dựng nước, nhanh chóng phục hồi kinh tế, tăng cường sức mạnh quốc phòng và mở mang văn hóa dân tộc. Trong quan hệ với nhà Thanh, Quang Trung cũng áp dụng nhiều biện pháp ngoại giao mềm mỏng nhưng rất kiên quyết để bảo vệ độc lập chủ quyền và giữ gìn mối bang giao hòa bình giữa hai nước.
Tất cả những hoạt động đối nội, đối ngoại đó chứng tỏ ý chí độc lập, tự chủ mạnh mẽ,tầm mắt nhìn xa thấy rộng và năng lực tổ chức tài giỏi của Quang Trung – Nguyễn Huệ.
Từ tuổi 18 đến tuổi 39, Nguyễn Huệ đã cống hiến tất cả tài năng, nghị lực của mình cho cuộc đấu tranh kiên cường vì lợi ích của nhân dân “tưới mưa dầm kẻo cùng dân sa chốn lầm than” (Hịch đánh Trịnh, 1786), “quét trừ loạn lạc, cứu dân trong vòng nước lửa” (Chiếu lên ngôi), vì độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia “bỗng xui thế nước tranh ba, tôi nhà Hạ phải thu hồi hai nước” (Hịch đánh Trịnh, 1786), “đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” (Hiệu dụ quân sĩ ở Thọ Hạc). Cuộc đời và sự nghiệp của Quang Trung – Nguyễn Huệ là một bản hùng ca tuyệt vời mà công chúa Ngọc Hân, Bắc Cung hoàng hậu của hoàng đế Quang Trung, một nữ sĩ tài hoa của văn học thế kỷ XVIII, đã hiểu và nhìn nhận rất đúng:
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công trình.
(Ngọc Hân, Ai tư vãn)
Quê hương và gia đình
Tất cả các anh hùng dân tộc của ta đều gặp nhau ở lòng yêu nước, thương dân tha thiết, chí cả tài cao về nhiều mặt. Nhưng mỗi người trong bối cảnh lịch sử cụ thể của cuộc sống và thời đại, có dáng vẻ riêng và con đường hình thành, phát triển khác nhau.
Quê hương của Nguyễn Huệ thế kỷ XVIII là vùng đất phía tây của phủ Quy Nhơn được gọi chung là Tây Sơn gồm Tây Sơn Thượng Đạo (An Khê, Gia Lai) và Tây Sơn Hạ Đạo (Tây Sơn, Bình Định). Tổ tiên vốn họ Hồ ở Nghệ An. Hiện nay ở chân núi Đài Phong gần núi Đài Hải thuộc làng Thái Lão, huyện Hưng Nguyên, còn một khu đất bằng phẳng tương truyền là mộ tổ anh em Tây Sơn. Khoảng giữa thế kỷ XVII, tổ bốn đời của Nguyễn Huệ bị quân Nguyễn bắt vào Đàng Trong và cùng với các tù binh Đàng Ngoài, chia đi khai phá theo chính sách khai hoang lập làng của chúa Nguyễn. Ấp Tây Sơn gồm ấp Nhất (thôn An Lũy, xã Phú An) và ấp Nhì (thôn Cửu An, huyện An Khê, tỉnh Gia Lai) thuộc vùng Tây Sơn Thượng Đạo là thành quả khai hoang và là quê hương đầu tiên của tổ tiên anh em Tây Sơn trên đất Đàng Trong. Đến đời cha là Hồ Phi Phúc thì dời về quê vợ ở Phú Lạc, ấp Kiên Thành (xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, Bình Định) thuộc vùng Tây Sơn Hạ Đạo. Ở đây còn di tích Gò Lăng tương truyền là vườn nhà, nền nhà và lăng mộ của tổ tiên Tây Sơn. Gần đây, bảo tàng Quang Trung đã tìm thấy lăng và bia về phía đông Gò Lăng trên một cánh đồng xưa kia cây cối um tùm. Lăng hình voi phục và bia bị chuyển khỏi lăng, nằm cách lăng khoảng 15m. Văn bia bị đục khoét một số chữ nhưng vẫn có thể đọc được dòng chữ giữa bia “Việt Cố Hoàng Hiển Tổ Khảo Cương Nghị Mưu Lược Minh Triết Công chi lăng” với niên đại “Tuế thứ Kỷ Hợi trọng xuân cốc nhật” bên phải và dòng chữ “Ngự chế” bên trái. Rõ ràng đây là lăng ông nội của anh em Tây Sơn và do Nguyễn Nhạc dựng năm Kỷ Hợi 1779, mùa xuân tháng 2 âm lịch. Năm Mậu Tuất (1778) Nguyễn Nhạc đã xưng đế, đặt niên hiệu Thái Đức nên văn bia ghi “Ngự chế”. Tại núi Ngang (Hoành Sơn) gần Phú Lạc có hai hố huyệt tương truyền là lăng mộ của ông bà Hồ Phi Phúc – Nguyễn Thị Đồng, cha mẹ của ba anh em Tây Sơn.
Sau một thời gian trú ngụ tại quê vợ, Hồ Phi Phúc lại chuyển cư về ấp Kiên Mỹ bên bờ sông Côn (nay là khối I, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, Bình Định) vừa khai hoang làm ruộng vừa buôn bán. Qua bốn đời, khoảng hơn một thế kỷ, dòng dõi anh em Tây Sơn đã di chuyển quê hương bốn lần: từ Nghệ An vào khai hoang lập ấp ở Tây Sơn Thượng Đạo rồi chuyển về Phú Lạc, Kiên Mỹ ở Tây Sơn Hạ Đạo. Tây Sơn Thượng Đạo và Hạ Đạo, quê hương của Nguyễn Huệ là vùng giáp ranh giữa núi rừng Tây Nguyên và đồng bằng. Cư dân ở đó lúc bấy giờ phần đông là đồng bào Thượng, chủ yếu là người Ba Na, vốn quen sống tự do, phóng khoáng và một số nông dân miền xuôi bị phá sản lên khai hoang, buôn bán, làm ăn. Người Kinh, người Thượng sống xen kẽ, có nhiều quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa mật thiết. Điều kiện thiên nhiên và cuộc sống đã rèn luyện nhân dân vùng này nhiều đức tính quý như lòng dũng cảm, chí bất khuất, truyền thống trọng võ…Ai qua đây mà không nghe câu ca dao phổ biến:
Ai vào Bình Định mà coi,
Con gái cũng biết đánh roi đi quyền.
Quanh đấy, An Vinh, An Thái, Thuận Thuyền… là những lò võ nổi tiếng:
Roi Thuận Thuyền, quyền An Thái
Trai An Thái, gái Thuận Thuyền
Riêng ấp Kiên Mỹ, quê hương trực tiếp của Nguyễn Huệ, là một thôn ấp có điều kiện giao thông thủy bộ thuận lợi và kinh tế nông-công-thương tương đối phát triển. Nằm bên tả ngạn sông Côn và dưới chân đèo An Khê, từ Kiên Mỹ có thể qua đèo An Khê hay ngược sông Côn lên Tây Nguyên bao la, cũng có thể xuôi sông Côn hay theo đường bộ qua An Thái xuống An Nhơn tỏa khắp vùng đồng bằng ven biển Quy Nhơn. Vì vậy, cư dân Kiên Mỹ vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề thủ công và buôn bán. Hiện nay Kiên Mỹ còn dấu tích ba đập nước cổ còn đang sử dụng là đập Thủy Làng, đập Lỗ Ổi và đập Văn Phong. Tên bẩy xóm của Kiên Mỹ phản ánh khá rõ nét cơ cấu kinh tế và nghề nghiệp thôn ấp này: xóm Rèn (Hưng Nguyên), xóm Trầu (Hưng Hòa), xóm Đậu (Hưng Hòa), xóm Bún (Hưng Bửu), xóm Chợ (Hưng Trung), xóm Ươm (Hưng Hóa), xóm Mía (Hưng Thạch). Mỗi xóm mang tên một nghề thủ công hoặc buôn bán. Xóm Rèn ngày xưa còn có tên xóm Lò Giấy hay xóm Giấy. Xóm Trầu có bến Trường Trầu bên bờ sông Côn là một bến chợ chuyên buôn bán trầu, giữ vai trò trung chuyển trong quan hệ giao lưu giữa miền đồng bằng và núi rừng Tây Nguyên, trầu cau từ Tây Nguyên chuyển về đây rồi muối, đồ sắt, hải sản từ đây chuyển lên miền núi. Xóm Chợ có chợ Kiên Mỹ là một chợ lớn trong vùng, mỗi tháng họp sáu phiên, cư dân có cả người Minh Hương (người Việt gốc Hoa từ lâu đời).
Kiên Mỹ là một làng nông-công-thương khá phát triển trên một địa bàn mang tính giao tiếp rộng rãi giữa đồng bằng và Tây Nguyên, giữa người Thượng và người Kinh.
Sau khi vương triều Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn đã tịch thu số ruộng đất của gia đình Tây Sơn ở Kiên Mỹ là 4 mẫu 5 sào sung làm quan điền(1). Đây là sở hữu của loại nông dân khá giả, sống bằng nghề nông kết hợp với buôn bán. Nguyễn Nhạc đã từng buôn trầu và nhân dân trong vùng quen gọi là Anh Hai Trầu và có thời gian làm Biện lại, là một nhân viên thu thuế ở tuần Vân Đồn. Nguyễn Huệ còn có tên là Thơm nên thường gọi là Chú Ba Thơm. Nguyễn Lữ được gọi là Thầy Tư Lữ vì có thời gian đi tu. Qua cách gọi này có thể xác định lại Nguyễn Huệ là con trai thứ hai, chứ không phải là con trai út như chính sử triều Nguyễn ghi chép(2).
Từ nhỏ, ba anh em Tây Sơn đều được đi học, vừa học văn vừa học võ. Người thấy học đầu tiên là thầy giáo Hiến, vốn là môn khách của Nội hữu Trương Văn Hạnh đã bị quyền thần Trương Phúc Loan giết hại, nên bất bình bỏ về An Thái (Nhơn Húc, An Nhơn, Bình Định) mở trường dạy học. Tinh thần chống đối bọn quyền thần của ông đã ảnh hưởng nhiều đến sự hình thành tư tưởng và chí hướng chính trị của anh em Tây Sơn. Sau đó, ba anh em Tây Sơn còn về Bàng Châu (Đập Đá, An Nhơn, Bình Định) học võ với võ sư Đinh Văn Nhưng mà nhân dân trong vùng quen gọi là ông Chảng. Đó là một người yêu nước, trọng nghĩa, tính khí ngang tàng mà cho đến nay, những câu nói quen thuộc như
“ngang như ông Chảng”, “ngang quá ông Chảng”, “chảng ngang nhiên”… đã trở thành tục ngữ dân gian.
Sinh ra và lớn lên trên một vùng đất Tây Sơn, Nguyễn Huệ cũng như ba anh em Tây Sơn đã sớm hấp thu được truyền thống tốt đẹp của quê hương, đặc biệt là tinh thần tự do, phóng khoáng, thượng võ của những nông dân khai hoang và người Thượng. Sống trong một gia đình nông dân khá giả trên một địa bàn mang tính giao tiếp, kết hợp nghề nông với nghề buôn bán, Nguyễn Huệ cũng như Nguyễn Nhạc có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với nhiều vùng, nhiều tầng lớp xã hội, hiểu biết sâu sắc về tình hình chính trị của đất nước và thái độ của các tầng lớp nhân dân. Đó là những cơ sở quan trọng để hình thành và định hướng tư tưởng và tình cảm, nhận thức và hoạt động của các thủ lĩnh Tây Sơn, nhưng đối với từng người còn được quy định bởi bản lĩnh, tài năng và phẩm giá của người đó.
Con người, tài năng và cá tính
Vừa đến tuổi trưởng thành, Nguyễn Huệ đã theo anh dựng cờ khởi nghĩa và từ đó lao vào cuộc đấu tranh xã hội quyết liệt với tất cả lòng hăng say và nhựa sống của tuổi trẻ.Nguyễn Huệ luôn luôn vươn lên đáp ứng những yêu cầu mới của lịch sử, đưa phong trào Tây Sơn từ một cuộc khởi nghĩa nông dân phát triển thành một phong trào quật khởi của dân tộc và bao giờ cũng đi đầu, đứng ở mũi nhọn của cuộc đấu tranh ấy.
Xuất phát từ căn cứ khởi nghĩa Tây Sơn, Nguyễn Huệ đã đưa phong trào lan rộng trên quy mô toàn quốc, cùng với nghĩa quân chiến đấu và chiến thắng khắp nơi trên đất nước.Dấu chân và chiến công của người anh hùng đó in rõ trên đồng bằng sông Cửu Long phía cực nam của tổ quốc cho đến Phú Xuân của miền Trung, ra đến tận kinh thành Thăng Long và đồng bằng sông Nhị của miền Bắc.
Nguyễn Huệ bước vào cuộc đấu tranh với khởi nghĩa Tây Sơn, trưởng thành cùng vớinhững bước đường thắng lợi của phong trào Tây Sơn, Nguyễn Huệ đã kết tinh đượcnhững tư tưởng, tình cảm và trí tuệ của nhân dân ta, của dân tộc ta trong một giai đoạn

đấu tranh vũ bão vì cuộc sống của con người, vì thống nhất đất nước và độc lập dân tộc.

Lòng yêu nước tha thiết, tinh thần dân tộc sâu sắc, ý chí, nghị lực phi thường và trí thông minh sắc sảo của bản thân cùng với thực tiễn sôi động của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc đã tôi luyện Nguyễn Huệ – Quang Trung thành người anh hùng “giúp dân cứu nước” của thế kỷ “áo vải cờ đào”.
Trong cuộc sống và đấu tranh, Nguyễn Huệ biểu thị nhiều phong cách, cá tính độc đáo.Sử sách cho biết vài nét về nhân dạng của Nguyễn Huệ như “tóc quăn”(3), “tiếng nói như chuông, mắt sáng như chớp(4).
Nguyễn Huệ là người rất ham học, chăm lo trau dồi hiểu biết của mình. Thuở nhỏNguyễn Huệ đã từng học văn, học võ với giáo Hiến ở An Thái, rồi tìm xuống Bàng Châu học võ với Đinh Văn Nhưng. Lớn lên, Nguyễn Huệ học trong cuộc sống, học trong đấu tranh. Trong một bức thư gửi Nguyễn Thiếp, ông nói: “Vả chăng quả đức sinh ở chỗ hẻo
lánh, học ở sự nghe trông”. Trong chiến đấu khẩn trương, Nguyễn Huệ cũng thể hiện tinh thần học tập rất cao. Ngô Thì Nhậm là người cộng tác gần gũi với ông nhận xét: “Quang Trung là người tính vốn ham học, dẫu trong can qua bận rộn cũng không quên giảng đạo lý. Ngày thường nghị luận, ý tứ rành mạch, khơi mở được nhiều điều mà sách vở ngày xưa chưa từng biết” (Bang giao hảo thoại). Do tinh thần ham học đó, Nguyễn Huệ tuy thời thơ ấu chỉ được học ít nhiều, không có bằng cấp gì, nhưng đã đạt đến một trình độ văn hóa khá cao, một nhận thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực.
Trong đấu tranh, Nguyễn Huệ rất cương nghị và quyết đoán, nhất là vào những giờ phút thử thách ác liệt của cuộc chiến đấu. Nhưng trong cuộc sống và quan hệ bình thường, Nguyễn Huệ lại rất vui tính, thích hài hước, mê hát tuồng và có lối nói vần vè ví von của dân gian.
Có lần vua Càn Long nhà Thanh gửi thư xin Quang Trung đôi voi chiến, có lẽ để tận mắt xem voi chiến của Tây Sơn như thế nào mà đã từng dày xéo hàng vạn quân Thanh ghê gớm như vậy. Tương truyền Quang Trung đã phê vào thư vua Thanh: “Thằng Càn Long nó xin một con voi, chọn con nào cụt vòi cho nó một con”.
Năm 1789, sau kháng chiến chống Thanh, dân làng Văn Chương (Hà Nội) nhờ một nhà nho là Tam Nông Hà Năng Ngôn làm một tờ sớ bằng thơ nôm xin “Ngài Quang Trung” cho dựng lại bia Văn Miếu. Quang Trung đã phê vào tờ sớ đó như sau:
Ta không trách nông phu.
Ta chỉ gớm thày nho.
Cả gan to mật dám kêu vua bằng Ngài.
Thày nho là ai?
Sắc cho bộ hỏi, dân khai.
Quang Trung đã tìm ra tác giả tờ sớ ấy, nhưng không phải để trị tội mà để… trọng dụng.
Theo lời phê tiếp theo, Quang Trung tự nhận tất cả trách nhiệm về phía quân Tây Sơn vàhứa với dân làng sẽ cho tu sửa lại những di tích lịch sử ấy:
Thôi, thôi, thôi, việc đã rồi,
Trăm nghìn hãy cứ trách bồi vào ta.
Nay mai dọn lại nước nhà,
Bia nghè lại dựng trên toàn muôn gian.
Cơ đồ họ Trịnh đã tan,
Việc này cũng đừng đổ oan cho thằng Trịnh Khải.
Đối với những trí thức, quan lại của các vương triều cũ, Quang Trung tỏ ra độ lượng và mạnh dạn, thu nạp và tùy theo tài năng cho giữ những chức vụ xứng đáng. Dưới trướng Quang Trung, bên cạnh những tướng soái xuất thân từ nông dân và các tầng lớp bình dân dấy lên trong khởi nghĩa, có nhiều người vốn là quan chức cũ của chính quyền Lê Trịnh như đô đốc Đặng Tiến Đông, phòng ngự sứ Lê Trung… hay những “ông nghè triều Lê” như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích…, hay những danh sĩ nổi tiếng như Trần Văn Kỷ, Lê Công Miễn, Nguyễn Thiếp… Quang Trung đã áp dụng một chính sách “cầu hiền” rất khiêm tốn, nhẫn nại. Trường hợp đối với Nguyễn Thiếp là một ví dụ điển hình. Đối với những quan lại sĩ phu cũ, vì lý do nào đó không muốn cộng tác với Tây Sơn, nhưng không có những hoạt động chống đối, Quang Trung cũng thể tình khoan dung. Trong một tờ chiếu, Quang Trung tuyên bố rõ: “Các quan văn, võ cựu triều hoặc đi theo Lê Chiêu Thống, hoặc đang trốn tránh, nay đều cho về nguyên quán. Còn ai không muốn ra làm quan thì cho tùy theo chí của mình”.
Nguyễn Huệ rất kiên quyết đối với kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc, nhưng cũng rất nhântừ, độ lượng đối với những người đã đầu hàng hối cải. Trước quân xâm lược Thanh,Quang Trung đã cùng với quân sĩ thề tiêu diệt bằng hết: “Đánh chốn chích luân bất

phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn”. Nhưng chính Quang Trung cũng đã ra lệnh thu nạp, nuôi dưỡng hàng vạn hàng binh, tù binh Thanh. Trong Chiếu phát phối hàng binh nội địa, Quang Trung công bố chính sách nhân đạo:

“Lúc chinh phạt gặp giặc thì giết, đó là lẽ thường. Bắt được mà tha, từ xưa chưa từngcó… Những kẻ trận tiền bị bắt hoặc thế bách xin hàng, đáng lẽ phải theo quân luật mà chém để làm răn cho kẻ khác. Song vì thể đức hiếu sinh của thượng đế và lấy lượng cả bao dung, trẫm tha tính mệnh cho các ngươi. Trẫm ban chiếu xuống cho sung bổ các người vào quân ngũ, chỉ cấp lương ăn, để các người khỏi khổ gông cùm, đánh đập”.Hàng vạn xác giặc bị chết trận, Quang Trung cũng sai thu nhặt hài cốt, chôn cất thành gò đống và sai lập đàn bên sông cúng tế – Quang Trung đã biểu thị những cử chỉ cao cả của người chiến thắng, tiêu biểu cho tinh thần nhân đạo của dân tộc ta, một dân tộc anh hùng

và văn hiến.

Read Full Post »

Trúc Diệp Thanh

I-Bất cứ ai đọc sử Tây Sơn,nhất là người Hà Nội, đều ngưỡng mộ  vị tướng huyền thoại của Tây Sơn vào mờ sáng ngày 5 tháng giêng Tết Kỷ Dậu (1789) đã chỉ huy đánh thắng  quân Thanh ở mặt trận Khương Thượng-Đống Đa sau đó tiến vào giải phóng Thăng Long buộc Tôn Sĩ Nghị cùng tàn quân Thanh phải tháo chạy khỏi kinh thành kết thúc chiến trận đại phá 29 vạn quân Thanh do Quang Trung-Nguyễn Huệ chỉ huy.Điều đáng tiếc là suốt 200 năm kể từ ngày triều đại Tây Sơn sụp đổ,danh tướng lập chiến công lừng lẫy nói trên chỉ được sử sách chép vỏn vẹn ba chữ Đô đốc Long (hoặc Mưu) ngoài ra không còn chi tiết về lai lịch nào khác.Đến những năm đầu thập kỷ 70 thế kỷ trước,GS sử học Phan Huy Lê (GS PHL)đã tìm thấy một số hiện vật lịch sử đời Tây Sơn tại Lương Xá(thuộc xã Lam Điền,huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây nay thuộc Hà Nội) và ở chùa Trăm Gian (cùng thuộc huyện Chương Mỹ).Có giá trị nhất là ba di bản chữ Hán gồm bộ Đặng gia phả hệ toản chính thực lục 6 quyển,một đạo Sắc phong có niên đại Thái Đức 10 (1787), tấm bia đá dựng trước chùa Thủy Lâm (Lương Xá) có khắc bài văn bia Tông đức thế tự bi có niên đại Cảnh Thịnh 5 (1797). Ngoài ra ở chùa Trăm Gian (Quảng Nghiêm tự,Chương Mỹ) còn lưu giữ  một pho tượng truyền thần bằng gỗ và chiếc chuông đồng đúc  năm 1794.Qua khai thác các di bản ở Lương Xá,GS PHL đã tìm thấy một vị Đô đốc Tây Sơn mà tác giả gọi tên là :Đặng Tiến Đông (?) xuất thân từ một dòng họ thế phiệt có nhiều người làm quan to dưới thời Lê Trịnh,tổ tiên 5 đời trước Đặng Tiến Đông đều được phong tước Quận công khi chết đều được phong thần..Bộ gia phả do chính Đặng Tiến Đông biên soạn chép rất chi tiết thân thế sự nghiệp của tổ tiên 5 đời trước nhưng không có trang nào chép về thân thế sự nghiệp của chính tác giả.May mắn là qua khai thác đạo Sắc phong và văn bia,GS PHL đã tìm thấy một số chi tiết quan trọng về dời tư của tác giả.Đặng Tiến Đông sinh năm Mậu Ngọ (1738) được học hành,đổ đạt và ra làm quan dưới triều Lê Trịnh.  Được chứng kiến sự hèn yếu,hổn loạn của triều Lê và tận mắt nhìn thấy sự hùng mạnh của quân Tây Sơn cùng với khí thế lẫm liệt của anh hùng Nguyễn Huệ trong dịp Tây Sơn đánh ra Bắc Hà dưới ngọn cờ “phò Lê diệt Trịnh” giữa năm Bính Ngọ (1786),giữa  năm Định Vị/Mùi (1787),ông đã từ Bắc Hà lặn lội vào Quảng Nam xin yết kiến Bắc Bình vương Nguyễn Huệ,được Huệ đón tiếp,đãi ngộ,ban đạo Sắc gia phong Đặng Tiến Đông chức “Đô đốc đồng tri tước Đông Lĩnh hầu vẫn sai giữ chức Trấn thủ xứ Thanh Hoa” (Thanh Hoa vào thời điểm nay vẫn thuộc quyền quản lý của nhà Lê ở Bắc Hà).Tiếp đến GS PHL trích dẫn một đoạn trong văn bia:”Năm Mậu Thân (1788),đầu đời Quang Trung (hai chữ Quang Trung bị đục-PHL),quân Bắc xâm chiếm nước Nam,Đô đốc Đặng Tiến Đông phụng chiếu cầm đạo quân tiên phong,tiến đánh làm cho quân Bắc tan vỡ,ông một mình,một ngựa tiến lên phía trước,dẹp yên nơi cung cấm…Võ Hoàng đế vào Thăng Long,tiến hành khen thưởng,ban cho ông xã quê hương là Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn..”.GS PHL kết luận:”không nghi ngờ gì nữa Đô đốc Đặng Tiến Đông chính là Đô đốc Long,một tướng soái tài ba của Tây Sơn, dưới sự tổ chức và lãnh đạo tuyệt vời của  Quang Trung Nguyễn Huệ,Đô đốc Đông đã chỉ huy quân Tây Sơn đánh thắng trận Đống Đa,góp phần quan trọng tạo nên mùa xuân đại thắng của dân tộc năm Kỷ Dậu 1789”(2).Còn có thêm chứng cứ là pho tượng của Đặng Tiến Đông và chiếc chuông đồng do Đặng Tiến Đông đúc tặng lưu giữ ở chùa Trăm Gian.
Từ đó nhân vật Đặng Tiến Đông vốn chưa có trong bất cứ một sách sử nào chép về Tây Sơn đã chính thức thay thế tên tuổi Đô đốc Long với nhiều hình thức tôn vinh:đưa vào giáo trình môn Lịch sử các trường phổ thông và đại học,đặt tên Đặng Tiến Đông cho một đường phố ở Thủ đô, đưa vào Từ điển Bách khoa Việt nam,phục chế tượng,sắc phong, bia đá trưng bày ở Bảo tàng lịch sử Hà Nội,bảo tàng Quang Trung ở Bình Định vv..vv.
Vào thời điểm này,việc tìm ra lai lịch của Đô đốc Long, điều  mà các sử gia triều Nguyễn và cả nhiều nhà sử học tài danh dưới chế độ mới như Hoàng Xuân Hãn,Trần Huy Liệu…chưa làm được là một thành tựu có ý nghĩa lớn của giới sử học miền Bắc XHCN mà công đầu thuộc GS PHL!
II- Cũng cần biết thêm vào thời điểm GS PHL tìm ra lai lịch Đô đốc Long,đất nước ta còn bị chia làm 2 miền và cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam đang diễn ra khốc liệt,miền Bắc cũng đang phải chịu đựng cuộc chiến tranh bằng không quân rất ác liệt của Mỹ.Các di bản đời Tây Sơn là độc bản lưu giữ ở Lương Xá lúc này còn là vùng quê hẻo lánh xa xôi không mấy ai tiếp cận.Mặc dù các trích dẫn lời dịch của GS PHL lúc này chưa kèm nguyên tác chữ Hán để giới nghiên cứu đối chiếu nhưng với uy tín của  một giáo sư sử học hàng đầu cùng với bằng chứng là các di bản,di vật đời Tây Sơn,lập luận của GS PHL không có đối thủ qua  2 thập kỷ 70 và 80 thế kỷ trước.
Đến đầu thập kỷ 90,với điều kiện đất nước đã có hòa bình,việc đi lại được cải thiện,giới nghiên cứu có thêm địa bàn ở miền Nam để khai thác tư liệu lịch sử,một số nghi vấn về lập luận nêu trên của GS PHL bắt đầu xuất hiện, sớm nhất là từ giới nghiên cứu sử học tỉnh Thừa Thiên-Huế.Vốn là kinh đô cũ của triều Quang Trung,sau ngày giải phóng miền Nam,các nhà khoa học xã hội TT-H đã tiến hành nhiều đợt khảo sát điền dã vùng Phú Xuân-Huế và đã thu được một số kết quả tích cực.Năm 1998,Nhà xuất bản Thuận hóa phát hành cuốn “Tư liệu điền dã vùng Huế về thời kỳ Tây Sơn” của Bảo tàng văn hóa dân gian Huế do nhà nghiên cứu Lê Văn Thuyên chủ biên.Đáng lưu ý trong cuốn này có đăng phần:Niên biểu Tây Sơn và Nhân vật thời Tây Sơn do Lê Nguyễn Lưu và Huỳnh Đình Kết biên soạn.Điều đáng ngạc nhiên là trong số 64 nhân vật văn võ hàng đầu của Tây Sơn được sưu tầm giới thiệu trong sách này không có tên “Đặng Tiến Đông” đã được đưa vào Từ điển Bách Khoa Việt nam (1995) mà có tên “Đặng Văn Long” với chú giải:”vị tướng Tây Sơn chỉ huy đánh thắng quân Thanh trong trận Khương Thượng –Đống Đa tiến trước vào Thăng Long được vua Quang Trung khen ngợi ban tặng 2 con ngựa và 40 xấp lụa” kèm theo lời bàn nghi vấn về “Đặng Tiến Đông”: ”Gần đây, năm 1974,người ta phát hiện tấm bia Sùng Đức thế tự bi tại chùa Thủy Lâm (Chương Mỹ-Hà Sơn Bình )dựng năm 1797 nói về đô đốc Đặng Tiến Đông,rồi tấm bia Đặng tướng công bi tại chùa Trăm Gian (Hoài Đức-Hà Nội) cùng nội dung nhưng ghi tên đô đốc Đặng Đình Đống,bèn cho rằng đó chính là Đô đốc Long.Chúng tôi cho rằng có lẽ đó là một tướng Tây Sơn khác cùng tham gia chiến dịch chứ không phải Đô đốc Long.”(Sách đã dẫn trang 148).
Đến năm 1999,nhà khảo cổ học Đỗ Văn Ninh (sau này là phó Giáo sư-Tiến sĩ Đỗ Văn Ninh) cũng qua khai thác các di bản đời Tây Sơn ở Lương Xá đã có bài “Phải gọi là Đô đốc Đặng Tiến Giản” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 3 tháng 5-6 năm 1999  lần đầu tiên phát hiện những sai lầm trong lập luận “Đặng Tiến Đông chính là Đô đốc Long” của GS PHL. Về tên goi: theo Đỗ Văn Ninh tên của Đặng đô đốc chép bằng chữ Hán trong các di bản phải đọc là “Giản”(chữ Giản với bộ nhật một bên) không phải chữ “Đông”. Về công trạng: theo Đỗ Văn Ninh, văn bia dựng trước chùa Thủy Lâm nêu trận đánh diễn ra “đầu năm Mậu Thân” lúc Quang Trung chưa lên ngôi, quân Thanh chưa vào Việt nam do đó “sự kiện cầm quân tiên phong tiến vào Thăng Long dẹp yên cung cấm của đô đốc Đông(đúng ra phải là Giản) quyết không phải là sự kiện quân tiên phong của Đô đốc Long đánh Đống Đa vào Thăng Long đầu tháng Giêng năm Kỷ Dậu”.Theo Đỗ Văn Ninh “Bắc binh” được dùng trong văn bia không phải chỉ quân Thanh mà là quân Bắc triều của vua Lê chúa Trịnh đang giữ phần đất Bắc Hà.Tác giả còn viện dẫn chứng cứ: sách “Tây Sơn thuật lược”(1) xuất bản dưới triều Nguyễn có đoạn chép trận Mậu Thân (1788):” Năm Đinh Vị (1787) Nguyễn Hửu Chỉnh dùng quân tuyển mộ ở Nghệ An kéo ra Thăng Long giúp vua Lê Chiêu Thống đánh đuổi Án Đô vương Trịnh Bồng.Vua Lê tin dùng Chỉnh, phong cho Chỉnh tước Bằng Quận công trao cho nắm binh quyền ở Bắc Hà.Chỉnh mưu trả thù Nguyễn Huệ xúi dục vua Lê đòi đất Nghệ An.Nguyễn Huệ tức giận.Mùa đông năm đó,Huệ sai Tiết chế Võ Văn Nhậm đốc xuất bộ binh,Thái úy Điều đốc xuất thủy quân,Đô đốc Đặng Giản làm tiên phong nhằm kinh thành Thăng Long tiến phát.Đầu năm Mậu Thân quân Tây Sơn tiến phạm Thăng Long.Vua Lê chạy đi Hải Dương quân Tây Sơn rượt theo,cha con Chỉnh đều bị bắt.Huệ cho Vũ Văn Nhậm trấn Thăng Long,Đặng Giản trấn Thanh Hoa(Giản là người Lương Xá,dòng dõi của Đặng Nghĩa Huấn)…”.Cũng theo “Tây Sơn thuật lược” việc ban thưởng cho Đặng đô đốc như chép trên văn bia là trường hợp được tin Vũ Văn Nhậm lộng quyền,tháng 5 Mậu Thân, Huệ mượn cớ đi tuần phía Bắc đến Thăng Long bắt và giết Nhậm,khen thưởng tướng sĩ có công trong trận Mậu Thân. Rõ ràng nhân vật “Đặng Giản” trong “Tây Sơn thuật lược”(có từ đầu thế kỷ 20) cũng chính là Đặng Tiến Giản chép trong văn bia lập năm 1797.Từ những phân tích như trên,ông Đỗ Văn Ninh kiến nghị:
” Để tôn trọng sự thật lịch sử nhất thiết phải:
a) Viết đúng tên cho Đặng Tiến Giản và đánh giá lại cho đúng công trạng vị cựu thần nhà Lê theo hàng Tây Sơn này.Ông quyết không phải là Đặng Tiến Đông.
b) Khôi phục trả lại công tích chống xâm lược Thanh cho Đô đốc Long.Dù có gây nên một số khó khăn cho công việc hành chính nhà nước cũng phải sửa lại tên phố Đặng Tiến Đông là phố Đô đốc Long.
c) Sử và sách bấy nay viết đã viét xai xin nhất loạt sửa.Những công trình khoa học viết đúng thì mọi sáng tác văn nghệ cũng sẽ tránh được những sai lầm”
Trước đòn phản kích của Đỗ Văn Ninh,GS PHL có bài bào chữa dài “Về nhân vật Đặng Tiến Đông” trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4 tháng 7 và 8 năm 1999 trong đó tác giả  khẳng định lại:”-Đặng Tiến Đông đúng phải đọc là Đặng Tiến Đông-Đặng Tiến Đông là Đô đốc Long là một giả thuyết có cơ sở”.
Năm 2000 trên cuốn “Đối thoai sử học” (ĐTSH) (Nxb Thanh Niên) ngoài bài “Đô đốc Đặng Tiến Đông hay Đô đốc Đặng Tiến Giản” của Đỗ Văn Ninh  còn có thêm 2 nhà nghiến cứu có tên tuổi tham gia thảo luận về lập luận của GS PHL.Ông Trần Văn Quý,một nhà sử học thông thạo Hán Ngữ và Pháp ngữ, viết bài “Phải gọi là Đô đốc Đặng Tiến Giản”,tác giả đã bác  mọi căn cứ do Phan Huy Lê đưa ra để chứng minh “Đặng Tiến Đông phải đọc đúng là Đặng Tiến Đông”. Với vốn Hán học tinh thâm,ông Trần Văn Quý đã phân tích chữ Hán chép tên nhân vật trên các di bản là chữ “Giản”(có nơi chép chữ Giản kèm bộ nhật,có nơi chép chữ Đông kèm bộ nhật nhưng đều phải đọc là “Giản”) Đáng chú ý là ông Trần Văn Quý đã phát hiện một câu do chính Đặng đô đốc chép về bản thân ở trang cuối quyển 6 trong tập phả do ông biên soạn:
Phiên âm: “Mậu Ngọ niên,ngũ nguỵệt sơ nhị,Quý Sửu thì,sinh bát đệ tử Đông hậu cải Giản dĩ tự vựng vân:trùng âm tích vũ chi hậu hốt kiến nhật sắc,cố tri danh yên”.
Dịch nghĩa: “Năm Mậu Ngọ,tháng 5,ngày 2,giờ Quý Sửu sinh con trai thứ 8 (của Dận Quận công với vợ lẽ thứ 5 là bà Phạm Thị Yến-TDT) đặt tên là “Đông” sau cải lại tên “Giản” lấy theo ý nghĩa trong từ vựng chữ Giản là: sau thời tiết mây mù tích mưa bổng xuất hiện ánh sáng mặt trời,cho nên đặt tên như thế”
Câu “tự thuật” như trên là thông điệp của tác giả để hậu thế biết tên của mình là gì và có ý nghĩa như thế nào!Theo ông Trần Văn Quý chữ “Giản” hiện diện trong nhiều từ điển. Theo Khang Hy từ điển chữ Giản có định nghĩa “Âm đán nhật minh.Minh dã” có nghĩa là “buổi sớm âm u bổng mặt trời sáng”.Theo Hiện đại Hán ngữ từ điển chữ Giản có định nghĩa:”Minh lượng-đa dụng vu nhân danh” nghĩa là “ Sáng sũa-phần nhiều dùng để đặt tên người” Đặc biệt theoTừ Hải (Thượng Hải 1989-trang 1580) chữ Giản có định nghĩa:”trùng âm tích vũ hậu,hốt kiến nhật sắc dã” nghĩa là :”sau thời tiết âm u tích mưa,bổng xuất hiện ánh sáng mặt trời”.Câu định nghĩa này cũng chính là câu định nghĩa chữ “Giản” nêu trong tập phả do Đặng Đô đốc biên soạn  trước đó 2 thế kỷ ( khoản năm 1792-đầu đời Cảnh Thịnh).Đây là bằng chứng có sức thuyết phục nhất phải đọc tên ông là Giản(Đặng Tiến Giản) không thể khác.Đến năm 2005 ông Võ Tuấn Hỷ-nhà nghiên cứu  Hán Nôm ở Hà Nội,tặng tôi cuốn sách dịch ”Đăng gia phả ký” (Nhóm biên dịch do Trần Lê Sáng chủ biên-Viện Hán Nôm xuất bản 2000).Cuốn sách này do ông Trần Lê Sáng tặng Võ Tuấn Hỷ vào năm 2000.Trên đầu trang bìa cuốn sách in tên họ,tước hiệu người biên soạn “Đặng gia phả ký” là: Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông.
Ảnh: Đầu trang bìa cuốn “Đặng gia phả ký” do Viện Hán Nôm xuất bản năm 2000.

bằng cả chữ Hán và tiếng Việt. Chữ Đông (Đặng Tiến Đông) được viết chũ Hán “chữ Đông kèm bộ nhật”(trong gia phả tên ông được chép  bằng 2 chũ Hán khác nhau nhưng tự dạng giống nhau là: chữ Giản kèm bộ nhật và chữ Đông kèm bộ nhật) . Ngay sau khi nhận sách,tôi tìm trang cuối quyển 6 chép về Dận Quận công Đặng Đình Miên (trang 356) thấy có đoạn:”Giờ Quý Sửu,ngày mồng 2 tháng 5,năm Mậu Ngọ,khi bà (Phạm Thị Yến,vợ lẽ thứ 5 của Dận Quận công) sinh ra con trai thứ 8 của Dận Quận công là Đông (   ) sau đổi sang chữ Đông (   ).Trong sách Tự vựng có câu:sau khi trời mưa sụt sùi,bổng thấy ánh mặt trời.Bởi vậy đặt tên như vậy”. Đây chính là đoạn dịch câu“tự thuật” của Đặng Đô đốc ông Trần Văn Quý đã nêu  trên “ĐTSH”.Như vậy,cùng trong năm 2000,cùng một câu chữ Hán nhưng hai nhà nghiên cứu Hán Nôm có tên tuổi lại có cách dịch khác nhau!Ông Quý dịch “sinh ra đặt tên Đông sau cải lại thành tên“Giản”,ông Sáng dịch”sinh ra đặt tên Đông sau cải đổi thành chữ “Đông”(thêm bộ nhật bên cạnh chữ Đông).Tuy nhiên tra từ điển để đối chiếu thì chữ “Giản” (ông Quý dịch) sẵn có trong từ điển còn chữ “Đông” (ông Sáng dịch) không có trong bất cứ cuốn từ điển nào!Hơn nữa chữ Hán có định nghĩa “sau khi trời mưa sụt sùi bổng thấy ánh mặt trời”như ông Sáng dịch thì chỉ ứng vào chữ “Giản” không có chũ “Đông” nào có định nghĩa tương tự!Sau khi nghe tôi trình bày sự khác nhau như trên,ông Võ Tuấn Hỷ,,bạn của Trần Lê Sáng,đã nói: tên của Đặng Đô đốc phải đọc đúng là “Giản”.Theo truyền thống khi cãi tên cho con, ai cũng chọn tên mới có ý nghĩa hay hơn tên cũ,nhất là với một gia đình cao sang,có học vấn như Dận Quận công thì không thể có chuyện cãi đổi tên cho con từ tên “Đông” (phương Đông) sang chữ “Đông” vô nghĩa!.Cho đến nay dư luận vẫn công nhận lập luận của cố học giả Trần Văn Quý (ông Quý đã qua đời năm 1993)về cách đọc tên nhân vật như trên là có sức thuyết  phục.Tuy nhiên ông Trần Văn Quý cũng nhận định:”tên “Đông” hay tên “Giản” không phải là vấn đề lớn,Điều quan trọng nhất,chính yếu nhất là ông có làm nên chiến thắng Đống Đa không?”
Bài thứ ba trên ĐTSH:”Xin trả lại công đánh trận Đống Đa cho Đô đốc Long” của Lê Trọng Khánh,một nhà nghiên cứu sử học lão thành, đã bàn thêm về chủ đề này.Theo tác giả: “trong tất cả các di bản đời Tây Sơn ở Lương Xá không có câu chữ nào xác nhận Đặng Đô đốc ở Lương Xá chính là Đô đốc Long, trên văn bia chỉ chép niên đại trận đánh là Mậu Thân,hoàn toàn không có 2 chữ Kỷ Dậu,2 chữ “Quang Trung” chỉ là 2 chữ phỏng đoán lắp vào 2 chữ bị đục nhưng Phan Huy Lê lấy làm tiền đề để dựng lên giả thuyết “Đô đốc Đông chính là Đô  đốc Long”là một sai lầm,lại được Nhà nước công nhận như một “định luận”!Một giả thuyết lịch sử                  sai lầm chuyến thành của Nhà nước,đã ảnh hưởng đến cả việc giảng dạy và học tập môn lịch sử trong tất cả các cấp học!”
Sau các bài báo trên “ĐTSH” đã có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đồng tình,ủng hộ lập trường của “nhóm ĐTSH”.Năm 2001 nhà văn,sử gia Tạ Chí Đại Trường (nhà nghiên cứu Tây Sơn quê Bình Định hiện định cư tại Mỹ) đã viết bài về nhân vật Đặng Tiến Đông, tác giả tặng ông Phan Huy Lê danh hiệu:”Người chôn Đô đốc Long lần thứ 2”.Theo tác giả thì nhân vật Đặng Tiến Đông là không có thật trong lịch sử Tây Sơn nhưng việc sữa lại không dễ dàng:”con cháu họ Đặng cứ yên tâm.Sai lầm đã gắn với một chế độ,một quyền lực thì không dễ gì xóa bỏ”.Cũng trong năm 2001 nhà văn Thụy Khê ở Đức đã phỏng vấn sử gia Bùi Thiết và nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân về vấn đề “Đặng Tiến Đông” trên trang web của mình.Cả sử gia Bùi Thiết và NNC Lại Nguyên Ân đều khẳng định nghi vấn Đặng Tiến Đông nêu trên ĐTSH là có cơ sở nhưng việc giải quyết không dễ dàng vì:” giới sử học Việt nam do những điều kiện nào đó lãng tránh nó.Tại sao vậy? Bởi vì giới sủ học VN hơi giống khuôn khổ các nhà trường,tức là có hệ thống thầy trò.Thế hệ thầy có những người có kết quả không còn đứng được nữa nhưng những người đó còn có một thế lực nào đó nên những thế hệ sau ngại việc thay đổi,tức là ngại đụng chạm đến thầy hơn là bảo vệ những đúng đắn hơn trong nghiên cứu”!
Điều dáng buồn cho sử học nước ta là thực tiễn những năm tiếp theo đã diễn ra đúng như những lời cảnh báo trên!Giới sử học đã lãng tránh giải quyết và nghi án lịch sử này có nguy cơ chìm xuống.Mặt khác nhóm “ĐTSH” vì sức khỏe, tuổi tác cũng không còn khả năng theo đuối cuộc tranh luận làm sáng tỏ chân lý.Mặc dù Nhà nước chưa cải chính nhưng cho đến những năm gần đây một bộ phận dư luận vẫn không chấp nhận việc thay tên “Đô đốc Long” bằng tên“Đặng Tiến Đông”.Trong pho truyện lịch sử lớn “Tây Sơn bi hùng truyện” của Lê Đình Danh (Nxb VHTT 2006),nhà văn Bùi Minh Tường viết “Lời mở đầu” có đoạn nêu:”Nhân đây xin lưu ý các nhà lịch sử và các cấp chính quyền Thành phố Hà Nội nên đổi lại phố Đặng Tiến Đông thành phố Đặng Văn Long vì trong chính sử cũng như trong tiểu thuyết Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh khồng hề nhắc đến tên Đặng Tiến Đông mà chỉ có tên Đô đốc tài danh Đặng Văn Long…”.
III-Để nghi án lịch sử này không bị chìm xuống,một nhóm nhà nghiên cứu trong đó có người viết bài này tiếp tục tìm kiếm bổ sung chứng cứ phản biện giả thuyết của GS PHL.Cuối năm 2007,công trình phản biện về giả thuyết “Đô đốc  Đông chính là Đô đốc Long” của GS PHL đã được chúng tôi trình lên Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch (BVHTTDL)đã được Bộ tiếp nhận và ngày càng được dư luận trong và ngoài nước quan tâm.(3)
Nội dung công trình phản biện năm 2007 chúng tôi vẫn sử dụng thành quả nghiên cứu của “nhóm ĐTSH” song có bổ sung chứng cứ.Đáng chú ý là phản biện lần này đã công bố nguyên tác chữ Hán nội dung tờ Sắc phong và đoạn văn bia Tông đức thế tự bi cùng lời dịch của nhà nghiên cứu Hán nôm Lê Nguyên Lưu ở Bảo tàng TP Huế.
Bản Sắcphong: Sau khi tìm được nguyên tác chữ Hán bản Sắc phong , chúng tôi thấy ngoài việc tờ “Sắc” ca ngợi Đặng Tiến Giản là người có “khí khái của trượng phu,tấm lòng của nam tử”,được “Nguyễn Huệ phong làm Đô đốc đồng tri tước Đông Lĩnh hầu” như GS PHL giới thiệu,theo chúng tôi,tờ sắc còn có một đoạn rất đáng chú ý chưa được nêu. Đó là đoạn: phiên âm:”Cầu y thê chi vô đạo,Sĩ cộng đái chi hữu thiên Bốc nhất lộ chi khả nan,đại bang vu khống,Cự bán hà chi dĩ bắc,nghĩa sĩ hội vô.Tương dụng xử ư niên lai, Xá tư nhân kỳ thục khả,…” dich nghĩa:”Tạm nương náu không tìm được đất, Luống hồ ngươi cùng đội chung trời. Một nẻo đường cõi Nam,đại bang ngăn giữ, Nữa bên sông về đất Bắc,nghĩa sĩ vắng tênh. Đem dùng cho năm sau, bỏ người này ai làm được?”.Đoạn này đại ý nói:”Đặng Tiến Giản bỏ Bắc Hà về với Tây Sơn là chọn con đường sáng.Giản đi rồi đất Bắc còn mấy ai là nghĩa sĩ? Năm sau Tây Sơn vượt sông tiến ra bắc,Giản sẽ là người đắc dụng không ai thay thế để quy tập sĩ phu Bắc Hà về với Tây Sơn”.Thiên tài trong cách dùng người và dự kiến hành động của Nguyễn Huệ nêu trong sắc phong được chứng minh không lâu sau đó qua văn bia Tông Đức thế tự bi.Nghiên cứu bản sắc phong chúng tôi còn nhận thấy thời điểm Đặng Tiến Giản từ Bắc Hà vào đầu quân Tây Sơn (tháng 8 năm 1787) là lúc mối bang giao giữa Bắc triều với Tây Sơn đang ở đỉnh căng thẳng do hành vi phản trắc của Nguyễn Hửu Chỉnh âm mưu chống lại Nguyễn Huệ.Chương Chín và chương Mười cuốn Hoàng Lê nhất thống chí đã chép chi tiết về giai đoạn này ghi nhận trong năm Đinh Mùi/Vị (1787) đã nhen nhóm cuộc Bắc tiến của Tây Sơn lần thứ 2 (lần thứ nhất là giữa năm Bính Ngọ-1786) đúng vào lúc Đặng Tiến Giản đầu quân Tây Sơn và được Nguyễn Huệ đãi ngộ phong chức tước và ngay sau đó giao ấn kiếm ủy thống cầm quân đánh ra Thăng Long vào cuối năm Đinh Vị/Mùi.như văn bia Tông đức thế tự bi đã chép dưới đây.
Văn bia Tông Đức thế tự bi: (trước đây có người đọc “Tông đức” là “Sùng đức”) do 2 danh sĩ Tây Sơn là Thụy Nham hầu Phan Huy Ích biên soạn và Tình Phái hầu Ngô Thì Nhậm nhuận sắc khắc vào bia đá năm 1797 (Cảnh Thịnh 5)có nội dung ca ngoại công đức của Đặng Tiến Giản đã làm đối với tổ tiên song giới nghiên cứu chú ý khai thác đoạn nói về võ công của Đặng Đô đốc,nguyên tác chữ Hán như sau:
Phiên âm: “Kim triều đại tướng thống Vũ Thắng đạo Thiên Hùng đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản hệ xuất lệnh tộc giáp nhất chi,Yên quận công chi tôn, Dận quận công chi tử (mất một chữ) thì, hoàng triều Thái tổ Vũ Hoàng đế nghĩa thanh chấn bạc quy trú Quảng Nam, công nhất kiến quân môn, mật mông tri ngộ, sủng ban ấn kiếm, ủy thống nhung huy, ngưỡng lại thiên uy, nhất cử đãng định. Mậu Thân (2 chữ tiếp theo bị đục) sơ, bắc binh nam mục, phụng chiếu tiên phong đạo tiến chiến nhi bắc binh hội công đương kỵ đương tiên, túc thanh cung cấm. Võ Hoàng đế giá lâm Thăng Long sách huân hành thưởng đặc tứ bản quán Lương Xá vĩnh vi thực ấp”. (Câu in chữ đậm là câu GS PHL đã khai thác và dịch lần đầu tiên vào năm 1973s-TDT).
Điều đáng lưu ý  là do bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ (1797-Cảnh Thịnh 5) triều Tây Sơn đang lúc suy tàn,thế lực của Nguyễn Ánh, kẻ thù không đội chung với Tây Sơn đang trỗi dậy mạnh mẽ.Để tấm bia tưởng nhớ Đặng Tiến Giản, người bạn chí thiết đồng hương,đồng triều,đồng chí hướng, tồn tại trước mọi biến cố của thời cuộc, hai ông Phan,Ngô  đã buộc phải sử dụng một số từ ẩn dụ để người đọc bình thường không nhận ra tấm bia nói về công trạng của một danh tướng Tây Sơn như danh xưng “Thái tổ Võ Hoàng đế”, “bắc binh nam mục”,“bắc binh hội”…Nhờ vậy tấm bia đã thoát được nạn “truy sát” nghiệt ngã dưới triều Nguyễn tồn tại đến tận nay nhưng cũng đã gây khó khăn cho giới nghiên cứu đã có cách dịch và giải thích không thống nhất về niên đại trận đánh và công trạng của nhân vật nêu trong văn bia. Khi phát hiện ra tấm bia,dù vài chữ có liên quan đến niên đại Tây Sơn đã bị đục bỏ nhưng giới nghiên cứu không mấy khó khăn để nhận ra tấm bia là di vật quý hiếm thuộc đời Tây Sơn còn sót lại.GS PHL đã nắm băt đúng“Thái tổ Võ Hoàng đế” là miếu hiệu của vua Quang Trung sau ngày nhà vua băng hà.Song “Thái tổ Võ Hoàng đế” không chỉ để chỉ vua Quang Trung mà còn để chỉ Nguyễn Huệ khi chưa lên ngôi hoàng đế.Bia lập năm 1797 tức đã 5 năm sau ngày vua Quang Trung băng hà.Năm 1787 Nguyễn Huệ ở Quảng nam vẫn còn là Bình Định vương. 2 ông Phan Ngô dùng miếu hiệu của Quang Trung để tránh dùng danh tính Nguyễn Huệ mà dùng danh xưng “tiên đế” là rất đúng và khéo léo.Điều khó hơn là tìm hiếu đúng “Bắc binh nam mục”,”bắc binh hội” là lực lượng nào! Đã có 2 cách giải thích dẫn đến 2 kết luận khác nhau:GS PHL giải thích “Bắc binh nam mục”là “quân Thanh xâm chiếm nước Nam” do đó xác định văn bia nói đến trận đánh của Tây Sơn với quân Thanh năm Kỷ Dậu và “Đô đốc Đông chính là Đô đốc Long”.Hai ông Đỗ Văn Ninh,Lê Trọng Khánh nêu lập luận:văn bia chỉ nói trận đánh xảy ra năm Mậu Thân không hề có 2 chữ Kỷ Dậu, “Bắc binh” năm Mậu Thân là chỉ quân của Bắc triều (Nhà Lê) Đặng tướng công tham dự trận năm Mậu Thân nhất quyết không phải là Đô đốc Long!
Việc thu thập nguyên tác chữ Hán và dịch lại đoạn văn bia Tông đức thế tự bi vào năm 2005  (chính thức công bố năm 2007) đã làm sáng tỏ thêm đúng sai giữa 2 lập luận nêu trên.
Dịch nghĩa:”Vị Đại tướng triều ta là đô đốc ĐôngLĩnh Hầu Đặng Tiến Giản thống                                          lĩnh về Thiên Hùng trong đạo Vũ Thắng, xuất thân từ chi thứ nhất một họ lớn, cháu cụ Yên quận công, con cụ Dận quận công (mất một chữ). Bấy giờ tiếng tăm nghĩa khí của Thái tổ Vũ Hoàng đế lừng lẫy khắp nơi, ngài đang đóng quân ỏ Quảng Nam, ông một lần vào ra mắt trước cửa quân, nhờ ơn tri ngộ, yêu ban ấn kiếm, giao cho cầm quân. Ngữa nhờ oai trời, một lần cất quân là quét sạch giặc giả. Mậu Thân, năm đầu niên hiệu Quang Trung (2 chữ Quang Trung bị đục) quân bắc nhòm ngó phương nam, ông vâng chiếu lãnh đạo tiên phong tiến đánh quân bắc tan rã, ông một mình một ngựa đi trước vào dẹp yên cung cấm. Võ Hoàng đế đến Thăng Long xét công phong thưởng, đặc biệt ban cho ông làng quê Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn…”(câu in đậm để đối chiếu với câu dịch của GS PHL với 2 cụm từ có gạch dưới là 2 điểm khác biệt). Tuy nhiên chỉ với lời dịch như trên cũng chưa đủ làm sáng tỏ văn bia nói đến trận đánh nào,vị tướng Tây Sơn tham dự trận đánh này là ai? Do đó cần có sự “giải mã” tiếp theo.
Trước hết đoạn văn bia nêu trên cho thấy mối liên quan giữa ba di bản (chi tiết xuất thân của Đặng Tiến Giản như trong văn bia cũng chính là lai lịch của Đặng Tiến Giản đã chép trong bộ phả do Đặng Tiến Giản biên soạn; tước “Đông Lĩnh hầu” trong văn bia chính là từ bản Sắc phong năm 1787) đồng thời cũng cho thấy việc diễn biến nối tiếp giữa việc Nguyễn Hụệ phong tước Đông Lĩnh hầu (8-1787)và sau đó đã giao ấn kiếm cho Đặng Tiến Giản cầm quân đánh giặc cuối năm đó (12/1787).
“Mậu Thân Quang Trung sơ”,GS PHL dịch là “năm Mậu Thân đầu triều Quang Trung” là không chuẩn xác.Chúng tôi dịch lại:”Mậu Thân năm đầu niên hiệu Quang Trung” để chứng minh dù bổ sung 2 chữ “Quang Trung” (đã bị đục)thì năm Mậu Thân-năm đầu niên hiệu Quang Trung cũng không thể hiểu là năm Kỷ Dậu là năm thứ 2 niên hiệu Quang Trung.Trận đánh ra Bắc Hà cuối năm Đinh Vị/Mùi và tiến phạm Thăng Long đầu năm Mậu Thân của Tây Sơn vào lúc Bắc Hà còn thuộc triều nhà Lê.chưa hề có bóng dáng quân Thanh thì “Bắc binh” đương nhiên không phải là quân Thanh mà là quân Bắc Hà dưới sự chỉ huy của Nguyễn Hửu Chỉnh.” Chữ “mục”(nam mục) không nơi nào có định nghĩa là “xâm chiếm”,”xâm lăng”,”xâm lực”.Chúng tôi dịch “nam mục” là nhìn về hướng nam cũng tức là “nhòm ngó lãnh thổ Tây Sơn” lột tả nguyên nhân xảy ra cuộc tiến quân của Tây Sơn ra Bắc Hà là do mưu toan của Chiêu Thống và Hữu Chỉnh “lăm le đòi lại đất Nghệ An”.Đặng Tiến Giản được Nguyễn Huệ giao nắm đội tiên phong trong trận đánh này.Sau khi lập công “đánh tan quân Chỉnh (Bắc binh hội) tiến vào Thăng Long dẹp yên cung cấm” Giản được giao trấn Thanh Hoa(đúng như đã ghi trước trong bản sắc phong tháng 8/1787). Vũ Văn Nhậm được giao trấn Thăng Long sinh kiêu căng,tự phụ,lộng quyền.Được tin,tháng 5 Mậu Thân,Huệ bất ngờ  ra Thăng Long bắt giết Nhậm,khen thưởng tướng sĩ đã lập công trong đó “Đặng Tiến Giản được ban làng quê Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn”. Đúng như dự kiến của Nguyễn Huệ nêu trong bản sắc phong: việc Đặng Tiến Giản được Tây Sơn trọng dụng đã thu hút nhiều nhân tài là sĩ phu Bắc Hà về với Tây Sơn trong đó có:Phan Huy Ích,Ngô Thì Nhậm…Văn bia Tông Đức thế tự bi là chứng tích lịch sử quý đề cập đến trận đánh của Tây Sơn ra Thăng Long năm Mậu Thân đúng như 2 Chương Chín,Mười Hoàng Lê nhất thống chí dưới thời Tây Sơn và cả “Tây Sơn thuật lược”dưới triều Nguyễn đã chép.Các tư liệu lịch sử trên  không nói hệ quả  chiến thắng của Tây Sơn năm Mậu Thân,theo chúng tôi,việc Tây Sơn thu phục Bắc Hà xóa ranh giới Nam,Bắc triều đã tạo thuận lợi về địa thế,nhân,tài,vật lực cho Nguyễn Huệ lập chiến công vang dội chỉ chưa đầy một năm sau:đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược nước Nam chỉ trong ba ngày từ 3 đến 5 Tết Kỷ Dậu trong đó Đô đốc Long có phần đóng góp quan trọng.Các  tư liệu lịch sử trên hoàn toàn không có dòng nào nói đến việc Đặng Tiến Giản tham dự trận Tây Sơn đánh quân Thanh đầu năm Kỷ Dậu.”Tây Sơn thật lược” có chép chi tiết thời gian Đặng Tiến Giản làm trấn thủ Thanh Hoa từ đầu năm 1788 đến năm 1790“vua Quang Trung cử Tuyên (tức Nguyễn Quang Bàn con trai thứ của Quang Trung-TDT) về thay làm trấn thủ Thanh Hoa,Giản về Thăng Long được phong Đại Đô đốc coi giữ Đại thiên hùng binh,sai làm thuốc súng…”Như vậy ngoại trừ giả thuyết của GS PHL nói “Đô đốc Đông ở Lương Xá chính là Đô đốc Long” không còn có tư liệu lịch sử thời nào từ Tây Sơn,đến Nguyễn và cả thời hiện đại  chép điều tương tự.Riêng đô đốc Long hiện vẫn còn nhiều giả thuyết:là Đặng Văn Long ỏ Tuy Phước Bình Định.là Lê Văn Long ở Tam kỳ Quảng nam,là Nguyễn Tăng Long ở Sơn Tịnh,Quảng Ngãi.Bài viết này chỉ nêu chứng cứ loại trừ giả thuyết “Đô đốc Long là Đặng Tiến Đông quê ở Lương Xá (Hà Nội)” không bàn đến các giả thuyết khác.Riêng đối với Đặng tộc ở Lương Xá người viết bài này rất kính trọng ngưỡng mộ một tộc họ lớn,có truyền thống với những danh nhân Đặng Thái Mai,Đặng Văn Ngữ,Đặng Thùy Trâm…vì vậy rất bất bình khi có người buộc Đặng tộc phải tôn thờ một “ĐặngTiến Đông” không có thật và phủ nhận Đô đốc Đặng Tiến Giản đã có tộc phả,sắc phong  bia,tượng đời Tây Sơn và cả sách sử đời Nguyễn ghi nhận như trên.
Thay lời kết: Cho đến nay lập luận “Đô đốc Đông chính là đô đốc Long” của GS PHL vẫn tồn tại như một giả thuyết.Giả thuyết thì chưa phải là sự thật và tất yếu cần có sự phản biện để tìm ra sự thật.Với ý nghĩa này lãnh đạo Bộ VHTTDL đã có 2 văn bản (vào năm 2008 do thứ trưởng Trần Chiến Thắng ký và năm 2010 do thứ trưởng Lê Khánh Hải ký) yêu cầu ông Viện trưởng Viện KHXHVN xem xét giải quyết công trình phản biện và trả lời.Dư luận đang trông chờ Viện KHXHVN có kết luận làm sáng tỏ một nghi án thuộc quốc sử.
HN tháng 5-2012
TDT
Chú thích:
(1)Tây Sơn thuật lược bằng chữ Hán xuất bản dưới triều Nguyễn đăng trong Tạp chí Nam Phong số 148.Bản dịch tiếng Việt do chuyên viên Hán nôm Viện Khảo cổ Sàigòn Tạ Quang Phát thực hiện đăng trên Tạp san Sử-Địa (Sàigòn)số Xuân Mậu Thân 1968
(2)Đô đốc Đặng Tiến Đông-một tướng Tây Sơn chỉ huy trận Đống Đa-Phan Huy Lê-Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 154(1-1974).
(3)Tạp chí Huế Xưa và Nay”(Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên-Huế) với bài “Tư liệu về vị tướng Tây Sơn ở Lương Xá” số 90 (tháng 11 và 12 năm 2008).Báo Hà Nội mới cuối tuần với bài “Trả lại tên cho vị tướng Tây Sơn” số 34 ngày 29/8/2009.Nhiều trang web trong và ngoài nước đăng bài về Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản ở Lương Xá trong các năm 2010-2011-2012.

Read Full Post »

Câu nói nổi tiếng của Isaac Newton, “Nếu tôi nhìn được xa hơn, ấy là vì tôi đứng trên vai những người khổng lồ”, đã tạo cảm hứng cho Melvyn Bragg viết cuốn “On Giants’ Shoulders” – một cuốn sách được tờ The Times ở Anh bình luận là đã “bỏ bùa mê … và mở toang kho báu khoa học của Aladin cho mọi độc giả”. Trong số 12 nhân vật “đứng trên vai những người khổng lồ” được Bragg liệt kê để viết tiểu sử, có 3 và chỉ 3 nhân vật vừa là nhà toán học vừa là nhà vật lý: Archimedes,  Isaac Newton, và Henri Poincaré.

 

Nói chính xác hơn, đó là ba “nhà đại quảng bác” (universalists), riêng Poincaré được gọi là “nhà đại quảng bác cuối cùng” (the last universalist). Đó là những nhà đại bác học có những khám phá phi thường bao trùm lên hết thẩy mọi lĩnh vực của toán học và vật lý đương thời, mở ra những chân trời mới cho khoa học để hậu thế tiếp tục khai phá.

Không thể kể hết những lời ngợi ca mà người đời đã dành cho họ.

Archimedes từng được nhà bác học trứ danh Galileo Galilei ca ngợi là “thần thánh” (divine), rồi thốt lên: “Không có Archimedes thì tôi sẽ chẳng làm nên trò trống gì!”.

Newton thì được nhà thơ Alexander Pope ngợi ca bằng hai câu thơ bất hủ, viết theo thể “Sáng thế ký” trong Kinh Thánh:

“Nature and Nature’s laws lay hid in night

God said “Let Newton be”, and all was light” 

Xin tạm dịch:

“Thiên nhiên và quy luật của Tự nhiên,

Lâu nay vẫn ẩn mình trong đêm tối,

Chúa phán “New-ton hãy ra đời”,

Và thế là khắp thế gian bừng sáng”.

Còn Poincaré thì sao? Ông có được ngợi ca như “thần thánh” không? Thế kỷ 19 không sùng bái thần thánh nữa, vì thế Poincaré “bị” gọi là “con quỷ toán học”, nhưng … “con quỷ” ấy đã làm thay đổi thế giới!

1. “Con quỷ toán học” làm thay đổi thế giới:

Khiếp sợ trước khả năng phi thường của cậu học trò Poincaré, một thầy giáo dạy toán tại Trường trung học Nancy (Lycée de Nancy, nay là Lycée Henri Poincaré) là Carta de Elliot ở Liard đã gọi cậu là “con quỷ toán học”. Năm 1872, trong một thư gửi cho một người bạn, thầy Elliot viết: “Trong lớp của tôi ở Nancy, có một con quỷ toán học, đó là Henri Poincaré” (J’ai dans ma classe à Nancy, un monstre de mathématiques, c’est Henri Poincaré).

Và “cậu bé bị thầy của mình gọi là con quỷ toán học ấy đã chứng minh rằng cậu đúng là như thế: Cậu đã biến đổi nền toán học trong phần còn lại của thế kỷ 20”, Bragg đã viết về Poincaré như vậy.

Nhận định của Bragg hoàn toàn chính xác, nhưng chưa đầy đủ, bởi vì, cùng với những người khổng lồ khác như Max Planck, Albert Einstein, … Poincaré còn làm thay đổi cả vật lý trong phần còn lại của thế kỷ 20.

 

Có thể nhiều người đến nay vẫn chưa biết rằng Poincaré đã 51 lần được đề cử nhận Giải Nobel vật lý. Xin chú ý: Giải Nobel đầu tiên diễn ra vào năm 1901. Poincaré mất năm 1912. Vậy trong 12 năm, ông được đề cử 51 lần, trung bình mỗi năm có hơn 4 đề cử !

Nhưng tại sao ông chưa một lần đoạt giải Nobel?

Đơn giản vì trong số những đóng góp lớn nhất của Poincaré cho vật lý, có những tư tưởng vượt quá xa thời đại, đến nỗi Uỷ ban Nobel cũng chưa thể đánh giá hết được ý nghĩa của nó, hoặc vì họ thận trọng không muốn mắc sai lầm. Thí dụ điển hình là Thuyết tương đối hẹp (Special Theory of Relativity). Giả sử vì một lẽ gì đó, Uỷ ban Nobel nhận thấy “muộn còn hơn không bao giờ”, rồi quyết định trao Giải Nobel vật lý cho lý thuyết này thì sao nhỉ? Khi ấy, những người xứng đáng được nhận giải có lẽ sẽ không chỉ có một mình Einstein, mà còn phải bao gồm một số người khác, đặc biệt là Hendrik Lorentz và Henri Poincaré – hai trong số những người đi tiên phong trong tư tưởng về tương đối tính và đã “dọn đường” cho Einstein đi tới đích cuối cùng. Vấn đề này sẽ được trình bầy kỹ ở mục 4*.

Một bằng chứng khác là Lý thuyết hỗn độn (Theory of Chaos). Mặc dù phải đợi tới những năm 1960-1970, lý thuyết này mới xuất đầu lộ diện như một lý thuyết khoa học hoàn toàn mới, nhưng nguyên lý cơ bản của nó đã được Poincaré khám phá ra ngay từ tháng 11 năm 1890, khi ông công bố lời giải của “Bài toán ba vật thể” (Problème à Trois Corps)(1) trên tạp chí Acta Mathematica.

Và thiết tưởng, nếu không có Lý thuyết topo (Topology) thì không biết toán học và vật lý học ngày nay sẽ ra sao. Vậy mà Poincaré lại chính là cha đẻ của Topo đại số. Trong lĩnh vực này, Giả thuyết Poincaré (Poincaré Conjecture) đã đứng sừng sững trong suốt một thế kỷ qua như một trong những thách thức lớn nhất đối với các nhà toán học, để mãi đến năm 2006 mới được giải quyết trọn vẹn bởi nhà toán học Grigori Perelman, và sự kiện này đã trở thành đột phá của khoa học năm 2006.

Không kể rất nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc khác trong toán học và vật lý, chỉ riêng đóng góp của Poincaré đối với ba lý thuyết khổng lồ nói trên cũng đã quá đủ để nói lên tầm vóc khổng lồ của ông.

Nhưng sẽ là một thiếu sót lớn nếu nghĩ rằng “con quỷ toán học” chỉ nghiên cứu khoa học thuần tuý: Poincaré đồng thời còn là một nhà triết học thâm thuý, một nhà tư tưởng có tầm nhìn xa trông rộng.

2.  Poincaré, nhà tư tưởng nhìn xa trông rộng:

Một sinh viên của Poincaré viết về thầy của mình: “Poincaré luôn kết thúc buổi giảng bằng những công thức đơn giản, được diễn giải bằng một thứ ngôn ngữ đầy hình ảnh đến nỗi buộc chúng tôi phải hiểu”. Nhận xét ngắn ngủi này phản ánh chính xác tư tưởng và tính cách của Poincaré: Đối với ông, toán học phải sinh động, giầu hình ảnh, đầy cảm nhận trực giác, mặc dù bề ngoài của nó là những ký hiệu và các phương trình. Ký hiệu hay phương trình chỉ là công cụ để thể hiện một tư tưởng, không được phép biến thành một thứ ngôn ngữ chết, một chuỗi suy diễn logic máy móc, vô hồn vô cảm. Điều này giải thích vì sao Poincaré quyết liệt chống đối chủ nghĩa toán học hình thức ngay từ buổi trứng nước của nó.

Thật vậy, đầu thế kỷ 20, bất chấp đa số các nhà toán học lao theo con đường do David Hilbert vạch ra, dồn mọi nỗ lực vào việc tìm kiếm Chiếc Chén Thánh Toán Học (The Holy Grail of Mathematics)(2), hòng biến toán học thành một hệ thống logic hình thức thuần tuý, hoàn toàn tách rời khỏi hiện thực, không đếm xỉa tới trực giác, Poincaré vẫn ung dung đi trên con đường riêng của mình và không ngừng cảnh báo chủ nghĩa hình thức về sai lầm của họ: “Nhà toán học xa rời thực tiễn giống như một hoạ sĩ bị tước đi vật mẫu”. Lời cảnh báo bất hủ ấy đã nhanh chóng được kiểm chứng:

Năm 1902, Bertrand Russell, một nhà tiên phong trong cuộc hành trình tìm kiếm Chiếc Chén Thánh, trớ trêu thay, lại khám phá ra một nghịch lý của chính logic hình thức, Nghịch lý Russell(3), cho thấy chủ nghĩa logic hình thức giống như con rắn tự nuốt đuôi của mình. Không giấu được vẻ giễu cợt, Poincaré nói: “Cuối cùng thì chủ nghĩa logic cũng đã chứng minh được rằng nó không hoàn toàn vô ích. Rốt cuộc nó cũng sinh đẻ được, nhưng lại đẻ ra một nghịch lý”. Bất chấp sự khác biệt về lý tưởng toán học, Russell vẫn khảng khái nhận định: “Poincaré là người có tài trí khoa học vĩ đại nhất đang còn sống” (Poincaré was the greatest scientific mind then living).

Năm 1931, Định lý Godel ra đời, xác nhận chủ nghĩa hình thức quả thật là một ảo tưởng, do đó Poincaré quả thật là người nhìn xa trông rộng!

Tuy nhiên không phải mọi điều đã được hiểu đúng ngay từ những năm 1930. Bằng chứng là chủ nghĩa hình thức vẫn còn giương cao ngọn cờ “toán học mới” để tấn công ồ ạt vào hệ thống giáo dục phổ thông ở tây phương những năm 1960. Phải đợi tới những thập kỷ cuối thế kỷ 20 mọi điều mới tỏ rõ. Giống như sau một cơn bão, khi bình yên trở lại trên đống hoang tàn, người ta mới nghiệm ra rằng quả thật Poincaré sâu sắc, và thế là dấy lên một trào lưu “đọc lại” những tác phẩm của ông:

· “Science et hypothèse” (Khoa học và giả thuyết, ra mắt năm 1902),

· “La valeur de la science” (Giá trị của khoa học, 1905),

· “Science et méthode” (Khoa học và phương pháp, 1908),

· “Savants et écrivains” (Nhà bác học và nhà văn, 1910),

Đó là những tác phẩm triết luận sâu sắc, hùng hồn, hấp dẫn, đến nỗi Poincaré được đánh giá như một nhà triết luận tài ba, và đã trở thành nhà khoa học đầu tiên được bầu vào Viện hàn lâm văn chương Pháp (Académie Francaise). Đáng tiếc là chưa có một tác phẩm nào nói trên được dịch ra tiếng Việt. Điều này cũng dễ hiểu: Sự chậm trễ của người Việt chúng ta chỉ là tấm gương phản chiếu sự chậm trễ trên toàn cầu.

Nhưng thế giới đã thức tỉnh, và khi tỉnh dậy, người ta ngạc nhiên chứng kiến một Poincaré luôn luôn có mặt trên tuyến đầu của tất cả các cuộc cách mạng lớn nhất về nhận thức trong thế kỷ 20, từ “cuộc cách mạng về tương đối tính” đến cuộc cách mạng về bất định, ngẫu nhiên và hỗn độn: Lời giải “Bài toán ba vật thể” của Poincaré chính là ánh chớp đầu tiên báo hiệu cuộc cách mạng tư tưởng sâu sắc nhất sắp xẩy ra trong thế kỷ 20:

Cuộc chuyển dịch của nhận thức từ xác định sang bất định.

3. Từ xác định tới bất định:

Trước thế kỷ 20, tư tưởng thống trị trong khoa học là chủ nghĩa tất định (determinism) – chủ nghĩa cho rằng vũ trụ vận hành theo những quy luật xác định và tất yếu như một chiếc đồng hồ. Từ thế kỷ 17 trở về sau, chiếc đồng hồ ấy được mệnh danh là “chiếc đồng hồ Newton” (Newtonian clock), bởi vì với cơ học Newton, người ta có thể xác định được tương lai hoặc quá khứ của vũ trụ nếu biết rõ trạng thái của nó tại một thời điểm cho trước. Nhà toán học Pierre Simon Laplace giải thích: “Chúng ta có thể coi trạng thái hiện tại của vũ trụ như hậu quả của quá khứ và là nguyên nhân của tương lai … và trước con mắt của một người trí thức, chẳng có gì là bất định cả, tương lai cũng như quá khứ sẽ chỉ là hiện tại mà thôi”. Đó là “Tất định luận Laplace” (Laplace’s determinism). Tất định luận này ăn sâu vào tâm trí các nhà khoa học đến nỗi Louis Lagrange, nhà toán học lỗi lạc cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, phải buồn rầu than thở: “Newton đã tìm ra hết mọi bí mật rồi, chẳng còn gì cho chúng ta làm nữa”. Dù cho vật lý thế kỷ 19 được bổ sung bởi Lý thuyết điện từ của James Clerk Maxwell, nhưng lý thuyết này hoàn toàn nhất quán với cơ học Newton để tạo nên một hệ thống lý thuyết hoàn toàn xác định và chắc chắn, làm nền tảng cho mọi hiểu biết về vũ trụ, đến nỗi nhiều người nghĩ rằng khoa học đã tiệm cận tới những trang cuối cùng. Nhưng …..

Lạ thay, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, những tư tưởng hoàn toàn mới đã nẩy mầm trên mọi lĩnh vực của nhận thức: Tư tưởng về cái bất định, bất toàn, ngẫu nhiên, hỗn độn – những cái không chắc chắn và không thể dự đoán trước (unpredictable)(4). Tư tưởng ấy bộc lộ trong hội hoạ của Paul Cézanne và Pablo Picasso, … trong bộ tiểu thuyết vĩ đại “À la recherche du temps perdu” (Đi tìm thời đã mất) của Marcel Proust, … và trong một loạt lý thuyết khoa học hoàn toàn “đảo lộn” sau đây:

· Nguyên lý bất định của Heisenberg trong cơ học lượng tử, ra đời năm 1921. Lý thuyết này đã dẫn tới cuộc xung đột “xác định vs bất định” giữa hai biểu tượng vĩ đại của vật lý thế kỷ 20: Albert Einstein, “nhà vật lý cổ điển cuối cùng”, và Niels Bohr, nhà phát ngôn và lãnh tụ triết học của cơ học lượng tử. Nếu hiểu hết mọi nhẽ mà Bohr đã nêu lên để bác bỏ quan điểm xác định cổ điển cuả Einstein thì khi đó người ta sẽ hiểu rõ bất định lượng tử là gì, và tại sao Bohr được coi là “vị trưởng lão quyết đoán” tương ứng với vị trí (-1) trên trục số, trong khi Einstein tương ứng vị trí zero(5).

· Định lý bất toàn của Kurt Godel. Khi định lý này mới ra đời năm 1931, trừ một vài người thấy giật mình đến mức phải thay đổi định hướng nghiên cứu toán học, điển hình là John von Newman(6), đa số vẫn “phớt lờ” để tiếp tục tôn thờ chủ nghĩa hình thức. Nhưng càng ngày người ta càng nhận thấy ý nghĩa vĩ đại của định lý này: Trong toán học tồn tại những mệnh đề không quyết định được (undecidable) – những mệnh đề không thể chứng minh và không thể bác bỏ. Hoá ra toán học cũng không tuyệt đối chắc chắn như người ta tưởng. Greg Chaitin sau này còn đi xa hơn khi chứng minh rằng yếu tố ngẫu nhiên và bất định nằm ngay trong nền tảng của số học(7).

· Lý thuyết hỗn độn mà Henri Poincaré là người đặt nền móng. So với Nguyên lý bất định của Heisenberg và Định lý bất toàn của Godel, tư tưởng về cái hỗn độn ra đời sớm hơn rất nhiều – ngay từ năm 1890 khi Poincaré công bố lời giải “Bài toán ba vật thể”, trong đó ông mô tả:

“Khi tôi cố gắng mô tả hình ảnh được tạo ra bởi hai đường cong này và vô số giao điểm của chúng, … những giao điểm này tạo nên một mạng lưới, một mớ lằng nhằng hoặc một cạm bẫy vô cùng rắc rối. Tôi hết sức kinh hoàng vì tính phức tạp của hình ảnh này đến nỗi tôi không cố sức để vẽ nó ra nữa”.

Năm 1908 ông giải thích vấn đề này rõ hơn:

“Một nguyên nhân rất nhỏ mà chúng ta không nhận thấy có thể dẫn tới một hậu quả lớn đến mức không thể đoán trước, và vì thế chúng ta bảo rằng hậu quả này xẩy ra do ngẫu nhiên … Có thể xẩy ra trường hợp những khác biệt vô cùng nhỏ trong dữ kiện ban đầu dẫn tới những hậu quả vô cùng lớn trong hiện tượng sau cùng. Một sai lệch nhỏ ban đầu có thể gây ra một sai lệch khổng lồ trong kết quả. Dự đoán trở nên bất khả, và chúng ta có một hiện tượng ngẫu nhiên” (trích Science et méthode).

Đó chính là tuyên ngôn mở đầu về những hiện tượng không thể dự đoán trước. Lần đầu tiên trong khoa học, bản chất ngẫu nhiên đã được đề cập. Lần đầu tiên tư tưởng tất định từng ngự trị trong hàng trăm năm trước, ít nhất kể từ thời Newton, đã bị nghi vấn. Lần đầu tiên lời than vãn của Lagrange đã bị chứng minh là sai. Đó là cuộc cách mạng đầu tiên về cái ngẫu nhiên, bất định, và hỗn độn trong thế kỷ 20!

Melvyn Bragg viết: Poincaré là “người tình cờ khám phá ra tính hỗn độn”, nhưng đó là sự tình cờ vĩ đại chỉ xẩy ra ở những bộ óc vĩ đại!

4. Giả thuyết Poincaré :

Năm 2000, Viện toán học Clay ở Mỹ nêu lên danh sách 7 bài toán khó nhất của thiên niên kỷ thứ hai (từ năm 1001-2000) và treo giải thưởng 1 triệu USD cho mỗi bài toán. Giả thuyết Poincaré (GP) do Poincaré nêu lên từ năm 1904 là một trong số 7 bài toán đó.

 

Thông thường, bài toán tổng quát trong không gian n chiều là bài toán khó nhất, nhưng kỳ lạ thay, lịch sử giải quyết GP lại rất “ngược đời”:

· Năm 1966, Stephen Smale đoạt Giải Fields (giải thưởng danh giá nhất trong toán học, được xem như Giải Nobel toán học) vì đã chứng minh được GP trong trường hợp n = 5 và n > 5.

· Trong những năm 1970, William Thurston đoạt Giải Fields vì chứng minh được một tính chất đặc biệt của các đa tạp 3 chiều và chứng minh này được coi là một đóng góp lớn vào việc chứng minh GP.

· Năm 1982, Michel Friedman đoạt Giải Fields vì chứng minh được GP đúng với n = 4.

· Tháng 11-2002, Grigori Perelman, tiến sĩ thuộc Viện toán học Steklov ở St Petersburg, Nga, bắt đầu công bố các chứng minh của ông trên internet, gây nên một cuộc xáo động chưa từng có trong thế giới toán học, kể từ sau cuộc xáo động do Andrew Wiles gây ra khi công bố chứng minh Định lý cuối cùng của Fermat. Tháng 04-2003, Perelman tới thăm Viện công nghệ Massachusetts (MIT), Đại học Princeton, Đại học tiểu bang New York ở Stony Brook, Đại học Columbia, và Đại học New York, để trao đổi với các đồng nghiệp và thực hiện các cuộc thuyết trình chuyên môn. Ba nhóm học giả độc lập đã được thành lập để nhận định công trình của Perelman. Trong khi chờ đợi sự đánh giá, Perelman từ chối trả lời mọi câu hỏi của báo chí, làm cho cả thế giới phải nín thở để theo dõi. Không khí căng thẳng này làm người ta nhớ đến khung cảnh năm 1993, khi Andrew Wiles lần đầu tiên trình bầy chứng minh Định lý cuối cùng của Fermat tại Đại học Princeton. Lần ấy, chính Wiles đã phát hiện ra sai lầm của mình, và phải mất hơn một năm trời để sửa chữa chứng minh rồi mới đi đến thắng lợi. Có vẻ như Perelman đã học được bài học đó. Điều lý thú là cả Wiles lẫn Perelman đều đơn thương độc mã đương đầu với một thách thức thuộc tầm cỡ ghê gớm nhất đối với bộ não của con người: Wiles mất 7 năm cho bài toán Fermat, Perelman mất 8 năm cho bài toán Poincaré. Cuối cùng, tháng 05-2006, Liên đoàn toán học quốc tế thừa nhận chứng minh của Perelman là đúng và quyết định trao tặng Perelman Giải Fields. Đồng thời, Perelman cũng đoạt Giải Thiên Niên Kỷ (Millennium Prize) của Viện Clay. Nhưng ông từ chối mọi giải thưởng. Đó là chuyện lạ chưa từng có! Phải chăng Perelman muốn thể hiện sự khinh rẻ đối với bả vinh hoa + danh vọng + tiền tài? Phải chăng ông muốn đề cao CÁI ĐẸP như chính Poincaré đã từng đề cao:

“Nhà khoa học không nghiên cứu tự nhiên vì việc đó có ích; Anh ta nghiên cứu nó vì anh ta thấy thích thú và anh ta thấy thích thú vì nó đẹp. Nếu tự nhiên không đẹp thì nó không đáng để biết, và cuộc sống không đáng để sống”.

Nhưng dù Perelman nghĩ gì thì người đời cũng vẫn phải nghiêng mình bái phục ông. Nhà toán học lỗi lạc Đào Triết Hiên (Terence Tao), người hiện nay được mệnh danh là “Mozart của toán học” (danh hiệu trước đây dành cho Poincaré), đã không tiếc lời ca tụng:

“Những bài toán thiên niên kỷ giống như những vách đá thẳng đứng bên bờ biển, không có chỗ bám víu. Tôi không biết làm thế nào mà có thể leo lên tới đỉnh. Theo ý kiến của tôi, đối với tất cả chúng ta có mặt ở đây, chứng minh Giả thuyết Poincaré của Perelman là một thành tựu kỳ vĩ, xứng đáng nhất để trao giải thưởng … chứng minh của Perelman thật sự là một loạt các đột phá…”.

Với 4 Giải Fields đã đoạt được, lời giải của Giả thuyết Poincaré đã chiếm kỷ lục về số giải thưởng cao quý nhất mà một bài toán có thể đạt được. Nói cách khác, nó cũng chiếm kỷ lục về sự tiêu hao năng lượng của những bộ óc vĩ đại nhất thế kỷ 20. Điều đó thiết tưởng đã quá đủ để nói lên tầm vóc của tác giả giả thuyết đó.

5. Poincaré và Thuyết tương đối hẹp:

Vốn ngưỡng mộ Einstein, năm 2005 tôi thật sự bị choáng khi đọc bài báo “Anhxtanh, thiên tài đạo văn?” trên tạp chí Khoa học & công nghệ số 1-2005. Thoạt nhìn đầu đề bài báo, tôi có cảm giác khó chịu, nhưng ngay sau khi đọc xong, tôi thấy cần tìm hiểu sự thật một cách kỹ lưỡng, vì bài báo được viết theo những nguồn thông tin nghiêm túc.

Điều kỳ lạ là xung quanh hai khám phá lớn nhất của Einstein đều xẩy ra những chuyện rắc rối liên quan đến quyền tác giả.

Chẳng hạn, theo cuốn “Phương trình của Chúa” (God’s Equation) của Amir Aczel, đã có một cuộc tranh chấp giữa Einstein và David Hilbert, một nhà toán học lớn cùng thời, về quyền tác giả đối với Phương trình trường trong Thuyết tương đối tổng quát(9). Một uỷ ban đã được thành lập để giải quyết cuộc tranh chấp này, nhưng phải đợi mãi đến cuối năm 1997, sau khi nhiều văn khố lưu trữ chưa từng biết về Einstein được công bố, thì mới có kết luận chung quyết: Quyền tác giả Phương trình trường thuộc về Einstein.

 

Đối với Thuyết tương đối hẹp thì sao?

Không có vấn đề tranh quyền tác giả ở đây, nhưng trớ trêu thay, “Năm vật lý Einstein 2005”, năm kỷ niệm Thuyết tương đối hẹp tròn 100 tuổi, đã trở thành dịp phơi bầy ra nhiều sự thật trước đây ít được biết, gây nên tranh cãi lớn xung quanh câu hỏi ai là tác giả thật sự của Thuyết tương đối hẹp.

Thực ra sự chia rẽ quan điểm đã có từ lâu, nhưng nhờ internet, việc tự do ngôn luận đã bùng nổ thành một cuộc tranh cãi lớn trên toàn cầu, trong đó nổi lên ba nhóm ý kiến:

· Nhóm 1 gồm những người đề cao đóng góp của những người đi trước Einstein về tương đối tính. Điển hình là Edmund Whittaker, tác giả cuốn “Một lịch sử về lý thuyết ê-te và điện” (A History of the Theories of Aether and Electricity), trong đó nói rằng Thuyết tương đối hẹp là đóng góp chủ yếu của Lorentz và Poincaré, còn Einstein chỉ là người mở rộng thêm vấn đề(10).

 

· Nhóm 2 gồm những người mắc bệnh sùng bái Einstein, coi Einstein như “ông thánh khoa học” và do đó cho rằng Thuyết tương đối hẹp chỉ có thể là sản phẩm của một bộ óc phi thường duy nhất – bộ óc Einstein. Điển hình cho nhóm này là Amir Aczel, tác giả cuốn “Phương trình của Chúa” đã nói ở trên.

· Nhóm 3 gồm những người có thái độ khách quan tôn trọng sự thật. Đó là thái độ khoa học chân chính. Một trong những nhân vật điển hình của nhóm này là Max Born, nhà vật lý đoạt Giải Nobel năm 1954, một người bạn của Einstein, và cũng là người nổi tiếng chính trực.

Theo một bài báo trên tạp chí NEXUS tập 11, số 1, thì trong cuốn “Physics in My Generation” (Vật lý trong thế hệ của tôi) của Max Born, do Pergamon Press xuất bản tại London năm 1956, trang 193, Born viết:

“Thêm một nét đặc biệt khác thường nữa của công trình hiện nay đang nổi tiếng, công trình của Einstein năm 1905, là sự vắng mặt của bất kỳ một tham khảo nào về Poincaré hoặc về bất kỳ ai khác. Điều đó gây cho bạn ấn tượng rằng đây là một cuộc mạo hiểm hoàn toàn mới. Nhưng tất nhiên, như tôi đã cố gắng giải thích, điều đó không đúng sự thật”.

 

Có lẽ đây chính là nguyên nhân làm cho nhiều người nghĩ rằng Thuyết tương đối hẹp chỉ có thể là sản phẩm của một bộ óc thiên tài duy nhất. Nhưng may thay, chính Einstein đã sửa chữa sự hiểu lầm đó: Hai năm trước khi mất, tức năm 1953, ông gửi thư cho ban tổ chức kỷ niệm lần thứ 50 ngày ra đời Thuyết tương đối hẹp sẽ tổ chức vào năm 1955, trong đó viết:

“Tôi hy vọng chúng ta cũng sẽ quan tâm tới việc vinh danh thích đáng công lao của Lorentz và Poincaré vào dịp đó”.

Đó là đảm bảo bằng vàng đối với công lao của Lorentz và Poincaré!

Công lao ấy đã được làm sáng tỏ trong bài báo “Ai phát minh ra Thuyết tương đối?” (Who Invented Relativity?) của Hermann Weyl, một trong những nhà toán học và vật lý xuất sắc nhất thế kỷ 20. Weyl mở đầu:

“Mọi sự khởi đầu đều không rõ ràng”, rồi ông viết tiếp:

“Một trong những khía cạnh lịch sử thú vị của thuyết tương đối hiện đại là ở chỗ, mặc dù nó thường được xem như một đóng góp cực kỳ độc đáo và cách mạng của một cá nhân duy nhất, nhưng hầu hết mọi tư tưởng và sự trình bầy của lý thuyết này đã được những người khác nói từ trước. Chẳng hạn, cả phương trình hiệp biến Lorentz (Lorentz covariance) lẫn quán tính của năng lượng đều đã ngầm chứa trong các phương trình Maxwell. Cũng vậy, năm 1887 Voigt đã rút ra những phép biến đổi Lorentz một cách hình thức dựa trên những khảo sát tổng quát đối với phương trình sóng. Vào những năm 1890, trong phạm vi điện-động-lực-học, Fitzgerald, Larmor, và Lorentz, tất cả đều đã đi tới những phép biến đổi Lorentz, bao gồm tất cả những hiệu ứng khác thường gắn liền với Thuyết tương đối hẹp của Einstein như hiện tượng dãn thời gian và co độ dài. Năm 1905, Poincaré đã phát biểu rõ ràng nguyên lý tương đối và nhiều hệ quả của nó, đã chỉ ra sự thiếu cơ sở thực tiễn của tính đồng thời tuyệt đối (absolute simultaneity), đã thách thức ý nghĩa bản chất của ê-te, và đã chứng minh rằng những phép biến đổi Lorentz chứa một nhóm biến đổi có ý nghĩa giống như các phép biến đổi Galileo”.

 

Sau khi đề cập đến việc so sánh Einstein với Copernicus, Weyl cho rằng việc so sánh đó là đúng, rồi ông phân tích tiếp:

“Chỉ những người kế tiếp như Kepler, Galileo, và Newton, nhờ đào xới những hiểu biết của Copernicus đến mức sâu sắc hơn chính Copernicus đã làm thì mới thực sự tạo ra được một lý thuyết vật lý mới lạ về chất. Rõ ràng là Copernicus chỉ là một trong số nhiều người tập hợp lại để cùng tạo nên cuộc cách mạng Copernicus trong khoa học, và chúng ta có thể lập luận tương tự rằng Einstein cũng chỉ là một trong số những cá nhân bao gồm cả Maxwell, Lorentz, Poincaré, Planck và Minkowski cùng có trọng trách đối với cuộc cách mạng về tương đối tính”.

“Trong những năm cuối đời Einstein nhận xét rằng không nghi ngờ gì nữa Thuyết tương đối hẹp, nếu đánh giá sự phát triển của nó trong sự hồi tưởng quá khứ, là đã chín muồi để được khám phá ra trong năm 1905. Cùng với Lorentz, người tiến gần nhất tới việc khám phá ra thuyết tương đối hẹp trước Einstein chắc chắn là Poincaré, người đã đề xuất trong năm 1900 một định nghĩa rõ ràng thích hợp về tính đồng bộ hoá của đồng hồ và năm 1904 đã gợi ý rằng ê-te về nguyên tắc là không thể phát hiện được … Hai đề xuất đó và những hệ quả của chúng về cơ bản đã là hiện thân của toàn bộ Thuyết tương đối hẹp”.

Trong thời đại thông tin ngày nay, quan điểm của Weyl đã đến với mọi người, và được nhiều học giả thể hiện sự đồng thuận.

Chẳng hạn bài báo “Poincaré contemplates Copernicus”(11) (Poincaré suy ngẫm về Copernicus) viết: “Hai công trình của Poincaré năm 1905 cùng với những công trình của ông trước đó đã mô tả một cách rõ ràng một lý thuyết về tương đối tính, ngay cả khi nó không giống với lý thuyết của Einstein trong mọi khía cạnh triết học”.

Sau đó bài báo trích dẫn lời của chính Poincaré viết năm 1905 (trước khi Einstein công bố công trình của ông về tương đối hẹp), rằng:

“Dường như việc không thể phát hiện được chuyển động tuyệt đối trên trái đất bằng thí nghiệm có thể là một định luật tổng quát của tự nhiên; Một cách tự nhiên chúng ta có khuynh hướng thừa nhận định luật này, mà chúng ta gọi là Tiên đề về tính tương đối và thừa nhận vô giới hạn. Tiên đề này đến nay vẫn phù hợp với thực nghiệm, nhưng dù cho sau này nó có thể được xác nhận thêm hoặc bị bác bỏ bởi những thí nghiệm chính xác hơn, thì trong mọi trường hợp, việc tìm hiểu những hệ quả của nó vẫn rất thú vị”.

 

Một bài báo khác nhan đề “Relativity” (Thuyết tương đối) trên trang mạng “How it works”(12) viết: “Thuyết tương đối hẹp được phát triển một cách độc lập bởi Henri Poincaré tại Paris và Albert Einstein tại Zürich … Henri Poincaré là người khởi đầu thật sự của thuyết tương đối”. Theo bài báo này thì chính Poincaré chứ không phải ai khác đã là người đầu tiên gieo thuật ngữ “relativité” (tương đối tính) vào thế giới khoa học, và cũng chính Poincaré chứ không phải ai khác đã là người đầu tiên nêu lên hệ quả của tính tương đối, rằng không có cái gì có thể chuyển động nhanh hơn ánh sáng. Đó chính là một tiên đề cơ bản của Thuyết tương đối hẹp. Nhưng cũng chính Einstein chứ không phải ai khác đã có công giải đáp những nghịch lý về ê-te do Lorentz và Poincaré khám phá ra. Nói cách khác, Einstein đã đẩy tư tưởng của Lorentz và Poincaré tới bước quyết định mang tính cách mạng.

6. Lời kết:

Trở về chủ đề “đứng trên vai những người khổng lồ”, xin thưa, thực ra đó là một lối nói ẩn dụ đã lưu truyền trong nền văn hoá Tây phương từ xa xưa, nguyên văn tiếng La-tinh là “Nanos gigantum humeris insidentes”, tức “Những chú lùn đứng trên vai những người khổng lồ”.

Tuy nhiên, những người như Newton, Einstein, Poincaré không phải là “những chú lùn”, mà là những người khổng lồ đứng trên vai những người khổng lồ. Vì thế tầm nhìn của họ quá xa, quá rộng, đến nỗi không dễ gì có thể hiểu hết những điều họ nghĩ trong một thời gian ngắn.

Nhưng dường như chưa bao giờ bức chân dung Poincaré hiện ra rõ rệt như hiện nay, khi những dịp kỷ niệm lớn về ông đang tới:

 

· Năm 2010 là dịp kỷ niệm 120 năm ngày ra đời của tư tưởng về cái hỗn độn – ngày công bố lời giải của Poincaré đối với “Bài toán Ba Vật Thể”.

· Năm 2012 sẽ là dịp kỷ niệm tròn 100 năm ngày mất của Poincaré. Điều này gợi nhớ tới ý kiến của nhà toán học Jean Mawhin tại Viện quốc tế Solvay về vật lý và hoá học ở Brussels, Bỉ, viết năm 2004, nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Poincaré:

“Năm 1954, cộng đồng khoa học kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Poincaré. Tại thời điểm đó, danh tiếng của Poincaré không nằm ở vị trí cao nhất trong số các nhà toán học, (vì) tinh thần Hilbert đang thống trị trong phần lớn tư duy toán học. Đó cũng không phải là điểm cao nhất của Poincaré trong vật lý, vì vật lý đang quan tâm chủ yếu đến lý thuyết lượng tử. (Nhưng) bất chấp điều đó, lễ kỷ niệm vẫn rất quan trọng trong những lĩnh vực mà sự hiện diện hoặc tên tuổi của Poincaré có ý nghĩa, và nội dung của những lĩnh vực đó đã được công bố trong một Cuốn Sách Vàng (Golden Book), được tái bản trong tập cuối của bộ sách Công trình khoa học của Poincaré. Năm nay chúng ta kỷ niệm tròn 150 năm ngày sinh của Poincaré, sự nổi tiếng của Poincaré đã đạt tới những đỉnh cao mới trong thế giới khoa học, thậm chí đối với cả những người không làm khoa học. Lý thuyết hỗn độn và nguồn gốc của Thuyết tương đối đã đưa tên tuổi và chân dung của Poincaré lên các tạp chí khoa học nổi tiếng nhất”.

Theo Tạp chí Toán học Math.vn

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.